BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Z7327708087433_79afab4a8dbcb76c27177d96f2a76c63.jpg Z7308494902470_b504b3869a3bf7287f630543c1c8edee.jpg Z7173286116199_714bbc0796be1aa06a5b4d101838c923.jpg Z7174347339863_0d900b0522424c5d61c6f96991430cc1.jpg Z7186629872978_59c06947b3da16c747b9a3dc472fb87e.jpg Z7170159782912_9745ea75bfb7125df9fe8584f408b916.jpg Z7188238445795_1bd4d3eda177f7b6cdab11286663769b.jpg Z7142294240650_5dd846080315dd0a94dc5a8b850b8be2.jpg Z7100277321508_bdd53b74e9e6dab87eecbe1890c320bf.jpg Z7134770151292_396fa552d581a4ea69fd9715194afac7.jpg Z7135036942483_153d348f0675f1b08d25fd20a2836af4.jpg Z7051414300405_7db8f133a01847066dd9b30f69bc99ab.jpg Z7116634052185_15113b3d70b090ae8fe94a0bdac7334c.jpg Z1760062425328_001_79b8075e52c8a9255e7cfdc519a090bc.jpg Z7116609646445_a1c4e2aa7ad36c4457f7d7ae31b1e5e2.jpg Z6506004584763_bbc0a3b9284efe7510de5f3c89c7bec7.jpg

    💕💕"Sách giấy là tâm hồn, thư viện số là đôi cánh giúp tri thức bay xa hơn."💕💕"Mỗi cú click chuột trong thư viện số là một bước tiến vào kho tàng trí tuệ nhân loại.💕💕"

    Thư viện Trường TH Thanh Hải - Thanh Hà - Hải Dương

    Trí Thông Minh Thực Dụng - Harvey Deutschendorf

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 14h:04' 07-03-2024
    Dung lượng: 1.1 MB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    BÍ QUYẾT CỦA HẠNH PHÚC

    C

    húng ta hẳn đã có lần đặt câu hỏi, tại sao có những
    người thành công khá dễ dàng còn một số khác lại
    phải vật lộn cả đời mà vẫn không có được thành công
    như vậy, dù đã loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, may mắn hay
    nền tảng khác.
    Trí thông minh thực dụng sẽ giúp các bạn trả lời một phần
    nào đó câu hỏi trên. Cuốn sách sẽ khai mở cho chúng ta về trí
    tuệ cảm xúc (EI) của con người, tìm hiểu thế giới nội tâm và
    thế giới bên ngoài, từ đó giải quyết các vấn đề liên quan đến
    khả năng thích ứng, kiểm soát căng thẳng, và chúng ta cũng
    nhận thức được vai trò của EI trong cuộc sống của mỗi người.
    Từ thế kỷ XX, các nhà tâm lý học đã bắt tay vào việc nghiên
    cứu nghiêm túc các dạng trí tuệ khác nhau, và cho rằng ngoài
    IQ còn có những lĩnh vực khác cần xem xét, đó chính là khởi
    nguồn cho trí tuệ cảm xúc ngày nay. Đúng như trong cuốn
    sách này khẳng định, mục đích của EI là giải quyết các vấn đề
    “làm thế nào” của cuộc sống chứ không giải quyết câu hỏi “vì
    sao”. Và điều này đang dần trở nên thiết thực hơn, quan trọng
    hơn với tất cả chúng ta, bởi mỗi chúng ta đều đang tìm cách
    làm thế nào để có một cuộc sống hạnh phúc hơn, một công
    việc thành công hơn và một cuộc đời đáng sống hơn.
    Cuốn sách đưa chúng ta tìm về cội nguồn của vấn đề, đó là
    phải có mục đích rõ ràng để thuyết phục bản thân làm điều này
    hay điều khác. Bởi từ xa xưa, các triết gia đã cho rằng, hạnh
    phúc chính là việc theo đuổi một mục tiêu nào đó. Ngày nay,

    việc lựa chọn mục đích tùy thuộc vào mỗi cá nhân, mỗi người
    tự tìm cho mình một mục tiêu nhất định để đạt tới.
    Ở Việt Nam thời gian gần đây rộ lên việc giáo dục kỹ năng
    mềm cho các độ tuổi, cả trong và ngoài nhà trường. Trước đây,
    việc giáo dục còn nặng về kiến thức, các cá nhân không được
    trang bị về những kỹ năng như giải quyết tình huống hay giải
    tỏa căng thẳng… Giờ đây, khi được học và hiểu về những kỹ
    năng này, con người linh hoạt hơn trong các tình huống cuộc
    sống, cũng dễ dàng đương đầu được với những áp lực từ cả xã
    hội và công việc vốn đang ngày càng đè nặng lên mỗi cá nhân.
    Để tìm ra được mục đích của mình cũng như trả lời cho câu
    hỏi làm thế nào để có được cuộc sống thú vị hơn, công việc
    thành công hơn, trang bị kiến thức về trí tuệ cảm xúc và thấu
    hiểu về tâm lý con người trong xã hội hiện đại là hoàn toàn
    cần thiết.
    Đặc biệt cuốn sách có rất nhiều câu chuyện thực tế để người
    đọc có thể rút ra những bài học bổ ích cho việc tăng cường trí
    tuệ cảm xúc bản thân cũng như ứng dụng trong cuộc sống.
    Đây là một cẩm nang chi tiết, giúp bạn đạt được những mục
    tiêu thiết thực cho cuộc đời mình.
    Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
    Hà Nội, tháng 3 năm 2011
    NGUYỄN HỒNG CHƯƠNG
    Chủ tịch HĐQT
    Công ty Cổ phần Đào tạo Nghề Đông Dương

    GIỚI THIỆU

    C

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    ông cụ mạnh nhất là công cụ con người sẽ sử dụng.
    Những kỹ thuật trong cuốn sách này thật đơn giản, dễ
    hiểu và dễ sử dụng, không đòi hỏi nhiều thời gian. Tôi
    hiểu và tôn trọng thực tế rằng, trong cuộc đời, bạn có nhiều
    mối quan tâm khác nhau mà thời gian thì hữu hạn. Dù có thể
    bạn rất quan tâm tới trí tuệ xúc cảm thì điều đó vẫn phải phù
    hợp với thế giới của bạn, chứ không phải ngược lại. Cuốn sách
    này cung cấp cho bạn những kỹ thuật đơn giản, hiệu quả và
    chỉ cần năm phút mỗi ngày.
    Thành công không phải là một bước đột phá. Nó là sự tích lũy
    những thay đổi nhỏ có được nhờ sự kiên trì, kỷ luật tự giác và
    học cách tận dụng tối đa trí tuệ xúc cảm. Với câu hỏi: Nâng
    cao trí tuệ xúc cảm có khó không, câu trả lời là có và không.
    Không, vì nó không khó về mặt kỹ thuật. Nó không đòi hỏi
    kiến thức đặc biệt, chỉ số IQ cao hay cần nhiều bí quyết kỹ
    thuật. Nhưng nó không dễ thực hiện. Nó đòi hỏi ý thức kỷ luật
    tự giác để duy trì hành động trong một khoảng thời gian dài,
    ngay cả khi không có kết quả rõ ràng ngay lập tức. Có thể
    trong phần lớn cuộc đời, tiềm thức chúng ta đã hoạt động theo
    những cơ chế mặc định tự hủy hoại bản thân. Thời xa xưa,
    cùng với bản năng sinh tồn, nhiều cơ chế hành vi ra đời do sự
    cần thiết, nhằm giúp loài người thoát khỏi những tình huống
    khó khăn. Nhiều người trong chúng ta dựa vào nỗi giận dữ và
    các xúc cảm mạnh khác để đối phó và thoát khỏi những gia
    đình bất ổn, những tình huống không may khác trong thời kỳ
    được nuôi dưỡng. Tuy nhiên, khi thoát ra khỏi hoàn cảnh đó,
    sự tức giận không còn giúp chúng ta nhiều nữa mà thậm chí
    còn chống lại chúng ta. Lúc đó, điều quan trọng là chúng ta
    phải nhận ra rằng suy nghĩ và hành vi trước đây từng cần thiết
    nay đã trở nên lỗi thời, có hại và chúng ta phải nỗ lực phát

    triển cách suy nghĩ mới về bản thân, về những người xung
    quanh và về môi trường của chúng ta. Những gì va vấp phải
    trong những năm tháng trưởng thành sẽ có ảnh hưởng đối với
    chúng ta cho đến tận cuối đời – tại nơi làm việc, trong gia đình
    và trong tất cả những quan hệ tương tác của chúng ta với thế
    giới.
    Mặc dù một vài điều chúng ta học được là tốt và sẽ rất có ích
    thì cũng có một số điều có thể phá hoại tương lai của chúng ta.
    Tin tốt là chúng ta có thể thay đổi những gì đã học trong quá
    khứ và học được những cách mới và tốt hơn để tương tác với
    thế giới xung quanh. Không giống chỉ số thông minh (IQ) –
    gần như được ấn định cả đời khi chúng ta bước vào tuổi
    trưởng thành, chúng ta có thể thay đổi được trí tuệ xúc cảm
    (EI).
    Bước đầu tiên là xác định đâu là sở trường của bạn và điều gì
    có ích cho bản thân. Trong cuốn sách Go Put Your Strengths to
    Work (Tạm dịch: Kích hoạt sức mạnh của bạn), tác giả Marcus
    Buckingham nói rằng, chúng ta nên tập trung vào việc tạo ra
    một môi trường làm việc sử dụng các thế mạnh nhiều hơn là
    quan tâm tới những điểm yếu.
    Lý thuyết của ông cho rằng, sẽ có lợi hơn khi chúng ta tập
    trung và cải thiện những lĩnh vực mà chúng ta vốn đã giỏi và
    có tài năng. Quan điểm này giống với tâm lý học tích cực,
    khẳng định rằng khi giúp đỡ người khác, chúng ta sẽ đạt được
    kết quả tốt hơn nhiều nếu tập trung vào những thế mạnh thay
    vì những điểm yếu của họ. Đây là một sự thay đổi có ý nghĩa
    so với quá khứ, khi đó tâm lý học tập trung chủ yếu vào các
    điểm yếu và làm thế nào để cải thiện chúng. Nói chung, tôi
    nghĩ rằng tập trung vào điểm mạnh là cách làm đúng đắn. Bất
    kỳ khi nào đưa ra ý kiến đánh giá EI cho ai đó hoặc khi hướng
    dẫn, đầu tiên tôi xác định và nói về các thế mạnh của người đó
    trước khi nhìn nhận những thách thức. Tuy nhiên, trong khi
    tập trung vào các điểm mạnh, vẫn có một số lĩnh vực chúng ta
    không được phép bỏ qua, ngay cả nếu đó không phải là sở
    trường của chúng ta. Các lĩnh vực quan trọng này sẽ hủy hoại
    chúng ta và phủ nhận những thế mạnh của bản thân nếu chúng
    không được quản lý tốt.

    Câu hỏi, vì sao một số người thì thành công, trong khi những
    người khác phải vật lộn cả đời và đạt được rất ít thành công,
    vẫn luôn hấp dẫn loài người. Trong phần lớn thế kỷ XX, chúng
    ta vẫn để tin rằng, đó là vì trí thông minh nhận thức, hay IQ,
    quyết định mức độ thành đạt của chúng ta. Tuy nhiên, thực tế
    phổ biến và năng lực quan sát giản đơn của chúng ta cho
    chúng ta biết rằng điều này không đúng, rằng hẳn phải có
    nhiều yếu tố dẫn tới thành công hơn việc chúng ta đạt kết quả
    thế nào trong các bài kiểm tra ở trường.
    Trong cuốn Successful Intelligence (Tạm dịch: Trí tuệ thành
    đạt), Robert Sternberg xem xét trường hợp của hai sinh viên
    tốt nghiệp trường Yale và cách họ thể hiện trong thế giới thực.
    Penn là một thành viên sáng tạo và xuất sắc của lớp, có thể
    đưa ra những ý tưởng của riêng mình. Về lý thuyết, anh chắc
    chắn là sinh viên tốt nghiệp thủ khoa trường Yale. Chỉ có duy
    nhất một vấn đề, Penn khá kiêu ngạo và gần như hoàn toàn
    thiếu những kỹ năng thực tế.
    Mặc dù Penn được tất cả các công ty hàng đầu phỏng vấn, sự
    kiêu ngạo khiến không công ty nào tiếp nhận anh cả. Lời đề
    nghị duy nhất đến từ một công ty hạng hai và anh cũng chỉ có
    thể trụ ở đó được ba năm.
    Còn người kia, Mart, bạn cùng phòng của Penn, không giỏi về
    học lực nhưng lại có trí tuệ xã hội tuyệt vời. Mart nhận được
    bảy lời đề nghị sau tám cuộc phỏng vấn. Dù không xuất sắc
    nhưng anh luôn là người đáng tin cậy và các kỹ năng xã hội
    giúp sự nghiệp của anh ngày càng phát triển.
    Hãy nghĩ lại thời kỳ học phổ thông của bạn. Bạn có nhớ những
    bạn học sáng giá có điểm số tuyệt vời và mọi người đều trông
    đợi họ sẽ làm được những điều vĩ đại cho thế giới? Họ có làm
    tốt như mọi người trông đợi? Thế còn những học sinh bị mọi
    người cười nhạo vì bỏ học đi bán xe cũ? Trong các buổi họp
    lớp, bạn có thấy những học sinh xuất sắc trước kia thì lái taxi,
    còn những học sinh bỏ học lại trở thành triệu phú?
    Tất cả chúng ta đều biết những câu chuyện tương tự như vậy,
    biết những người từng rất giỏi khi nhìn vào điểm số họ đạt
    được ở trường, nhưng lại phải vật lộn để thích nghi với xã hội.

    Ted Kaczynski[1] – được mệnh danh là “Unabomber” (kẻ
    chuyên đánh bom máy bay và trường đại học) và tên Ted - Ted
    Bundy khét tiếng[2] - chỉ là hai trong nhiều ví dụ nổi tiếng.
    Mặt khác, chúng ta biết ai đó có thể sẽ không đạt được kết quả
    cao trong bài kiểm tra IQ nhưng vẫn sống rất tốt. Do đó, quan
    niệm rằng phải có những yếu tố khác – ngoài IQ – tham gia
    vào việc xác định thành công của một người, không phải là
    điều gì ngạc nhiên đối với phần lớn chúng ta. Trong đời mình,
    chúng ta vẫn luôn thấy điều này.
    Ví dụ, trong cuốn sách Working with Emotional Intelligence
    (Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công việc)[3], Daniel
    Goleman đã khảo sát trường hợp của một công ty tư vấn để
    tìm ra những hậu quả do thiếu khả năng kiểm soát sự tùy
    hứng. Các nghiên cứu về trường hợp thất bại trong công việc được tiến hành nhờ hồ sơ của công ty tư vấn, đã đánh giá từng
    nhân viên trong đợt kiểm tra trên 4.265 người, từ lãnh đạo
    công ty cho tới những người lao động chân tay.
    Trong những phát hiện của Goleman có trường hợp một nhà
    quản lý doanh nghiệp. Người này khá hung hăng với tất cả
    những người ông ta tiếp xúc. Cuối cùng, ông ta bị sa thải vì
    một nữ nhân viên tố cáo tội quấy rối tình dục. Một trường hợp
    khác, một nhà quản lý hướng ngoại khác thường, nổi tiếng vì
    phong cách thoải mái và thích tụ tập đã vượt quá ranh giới bảo
    mật và rốt cuộc bị sa thải vì để lộ thông tin mật của công ty.
    Tương tự, cả CEO và CFO được tuyển chọn kỹ lưỡng của ông
    ta đều bị sa thải do quản lý kém nguồn ngân sách của công ty.
    Cả hai đều thiếu đạo đức và ít quan tâm tới tác động do hành
    động của mình gây ra.
    Tất cả những người này đều thiếu khả năng kiểm soát cơn bốc
    đồng của mình. Họ có rất ít, hoặc thậm chí không có, khả năng
    trì hoãn sự thỏa mãn tức thời. Nếu biết tự kiềm chế, con người
    có thể suy nghĩ kỹ lưỡng về hậu quả có thể xảy ra với những
    gì họ chuẩn bị làm và chịu trách nhiệm về lời nói, việc làm của
    mình.
    Hãng tư vấn đó đã nghiên cứu về sự tự kiềm chế trong công
    việc và khuyên rằng, “khi lựa chọn nhân lực cho công việc
    thuộc lĩnh vực công nghiệp – ở tất cả các cấp độ – sẽ là khôn

    ngoan khi từ chối những ứng viên có mức tự kiềm chế thấp
    hoặc rất thấp”, vì “khả năng họ gây ra rắc rối là vô cùng lớn”.
    (Tuy vậy, công ty này cũng lưu ý rằng con người có thể được
    giúp đỡ để xử lý tốt hơn tính bốc đồng của họ - kiểm soát cơn
    bốc đồng kém không nhất thiết là bản án tử hình cho sự nghiệp
    của người đó).
    Nhiều công việc, cuộc hôn nhân, mối quan hệ và tình bạn khác
    lại bị phá hủy bởi ai đó, trong một khoảnh khắc tức giận, nói
    ra những lời do sự thúc bách của tình thế mà sau đó họ phải
    dành cả đời để nuối tiếc. Do đó, điều quan trọng là phải xác
    định những lĩnh vực có khả năng gây hại cho chúng ta và ít
    nhất phải trung hòa chúng để chúng không trở thành những vật
    cản đường tới thành công.
    Không may là bộ não của chúng ta không được lập trình như
    máy tính; chúng ta không thể đơn giản đăng nhập và thay đổi
    cài đặt trong vòng vài giây. Tuy nhiên, chúng ta có thể phát
    triển những trạng thái mặc định mới bằng cách liên tục rèn
    luyện các cách giải quyết vấn đề tốt hơn. Qua thời gian, những
    kỹ thuật này sẽ trở nên dễ dàng hơn và cảm giác là một phần
    thực con người ta vậy. Khi đó, những suy nghĩ và hành vi
    trước đây sẽ bắt đầu có vẻ không tự nhiên và không còn quen
    thuộc nữa.
    Lúc này chúng ta sẽ biết rằng, một thay đổi thật sự và lâu dài
    đang hình thành trong cuộc sống của chúng ta và thay đổi
    chúng ta theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Cuối cùng, những mẫu
    thức mới này sẽ trở thành trạng thái mặc định mới của chúng
    ta, tự nhiên và tự động đến với chúng ta.
    [1] Theodore John “Ted” Kaczynski (1942): Một nhà toán học
    thông minh và là Giáo sư khoa toán tại U. C. Berkeley, nhưng
    lại là kẻ thù ghét xã hội. Từ năm 1978, y bắt đầu gửi bom,
    đánh bom, khiến ba người thiệt mạng và 23 người bị thương.
    Cơ quan FBI đã truy lùng y mãi đến năm 1996 mới bắt được.
    Đó là vụ “Unabomber”, ký hiệu của FBI dành cho tên khủng
    bố chuyên đánh bom các trường đại học và hãng hàng không.

    [2] Theodore Robert “Ted” Bundy (1946-1989): Đẹp trai,
    thông minh, học hành xuất sắc và có một tương lai chính trị
    đầy hứa hẹn, nhưng lại là một trong những kẻ giết người hàng
    loạt ghê rợn nhất lịch sử nước Mỹ từ 1973-1978. Hắn thú nhận
    đã giết 30 người, nhưng con số thực tế còn lớn hơn rất nhiều.
    [3] Đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm
    2007.

    Phần I
    TRÍ TUỆ XÚC CẢM

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    1
    EI LÀ GÌ?

    “Phát kiến vĩ đại nhất của thế hệ tôi là loài người có thể thay
    đổi cuộc sống của mình bằng cách thay đổi cách nghĩ.”
    – WILLIAM JAMES, NHÀ TÂM LÝ HỌC VÀ TRIẾT
    HỌC –

    Ý

    kiến cho rằng, xúc cảm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc
    sống, không phải là mới. Nó tồn tại từ khi loài người
    có mặt trên trái đất. Những nhà triết học Hy Lạp cổ
    đại đã nói về ảnh hưởng của xúc cảm tới bản thân họ và những
    người xung quanh họ. Trong một vài thập kỷ qua, chúng ta đã
    đạt được những bước đột phá quan trọng trong nghiên cứu xúc
    cảm và tác động của chúng đối với đời sống.
    Lịch sử khái niệm
    Trong những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu và
    các nhà tâm lý học đã bắt đầu nghiên cứu một cách nghiêm túc
    các dạng trí tuệ khác nhau. Trước thời điểm bài kiểm tra IQ
    được thiết lập và sử dụng tại các trường học, David Wechsler,
    người phát triển phiên bản IQ mới nhất vào năm 1940, đã cảm
    thấy rằng có những lĩnh vực trí tuệ khác cần phải được đo
    lường. Ông suy luận rằng một trong những lĩnh vực chúng ta
    cần xem xét chính là lĩnh vực mà ngày nay gọi là trí tuệ xúc
    cảm. Năm 1955, Albert Ellis, người sáng lập liệu pháp lý tríxúc cảm, suy đoán rằng con người có thể học cách giải quyết

    xúc cảm bằng cách sử dụng giải thích. Năm 1980, Tiến sỹ
    Reuven BarOn, một học giả và nhà tâm lý học người Israel,
    bắt đầu nghiên cứu ảnh hưởng của xúc cảm tới hoạt động chức
    năng của con người.
    Sử dụng công trình của bản thân và những nhà nghiên cứu
    trước đó, BarOn bắt đầu phát triển bài kiểm tra EQ, cho trí tuệ
    xúc cảm. Đây là đánh giá trí tuệ xúc cảm đầu tiên có giá trị
    khoa học. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ đã chứng nhận bài
    kiểm tra này, và nó được biết đến với tên gọi BarOn EQ-i®,
    hay Bản kê chỉ số xúc cảm.
    Thuật ngữ trí tuệ xúc cảm được cho là do John Mayer, Đại học
    New Hampshire và Peter Salovey, Đại học Yale, nghĩ ra. Năm
    1990, hai giáo sư tâm lý học, cùng với đồng nghiệp David
    Caruso, đã phát triển một bài kiểm tra trí tuệ xúc cảm khác.
    Bài kiểm tra của họ, có tên Kiểm tra Trí tuệ Xúc cảm MayerSalovey-Caruso (MSCEIT), là bài kiểm tra trí tuệ xúc cảm dựa
    trên năng lực. Vấn đề xoay quanh ai thật sự là người phát hiện
    ra trí tuệ xúc cảm hay ai là người đầu tiên đặt ra thuật ngữ này
    là điểm vẫn còn phải tranh cãi. Cơ sở tri thức của chúng ta đã
    tiến bộ tới mức các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học xã hội
    đã tạo ra những đột phá mới trong các lĩnh vực chức năng hoạt
    động của con người. Với hiểu biết mới, chúng ta đã có thể đo
    và kiểm tra ảnh hưởng của xúc cảm trong đời sống một cách
    chính xác và có ý nghĩa.
    Hãy nghĩ về điều này cũng giống như các đột phá công nghệ
    đối với xe hơi và máy bay. Mặc dù anh em nhà Wright đã lưu
    danh vào lịch sử là những người thực hiện chuyến bay đầu
    tiên, thì vẫn có những người khác cũng cố gắng thực hiện điều
    đó và cũng đã đạt đến rất gần chuyến bay đó. Công nghệ đã
    tiến bộ tới mức có thể thực hiện bay bằng máy bay và lúc đó
    cũng đã có những nhà phát minh ở tất cả những nước công
    nghiệp như Anh, Pháp và Đức. Họ cũng đang tiến rất gần tới
    việc đột phá đó. Nếu anh em nhà Wright không thực hiện

    chuyến bay lịch sử với chiếc Kitty Hawk thì có thể là một ai
    khác cũng sẽ bay ngay sau thời điểm đó. Đó là vấn đề thời
    điểm của ai đến trước. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng với
    trí tuệ xúc cảm.
    Năm 1995, Daniel Goleman xuất bản cuốn Emotional
    Intelligence (Tạm dịch: Trí tuệ xúc cảm)[1]. Cuốn sách tổng
    kết lại những công trình đã được thực hiện trong lĩnh vực này
    tới thời điểm đó. Nó trở thành cuốn sách bán chạy, và
    Goleman xuất hiện với tư cách khách mời trong chương trình
    Oprah Winfrey Show. Nếu có một thời điểm định rõ cho trí tuệ
    xúc cảm thì chính là đây. Nhận thức của công chúng về khái
    niệm này, cho đến trước thời điểm này vẫn còn rất ít, đến lúc
    này đã phát triển nhảy vọt. Mọi người bắt đầu nói về trí tuệ
    xúc cảm khi các bài báo xuất hiện trên các tạp chí lớn như
    Time và Newsweek.
    Năm 1998, Goleman tiếp nối thành công của mình bằng cuốn
    Emotional Intelligence in the Workplace (Tạm dịch: Trí tuệ
    xúc cảm tại công sở), trong đó ông nghiên cứu các doanh
    nghiệp được lợi như thế nào nhờ việc thực hiện các khái niệm
    trí tuệ xúc cảm tại nơi làm việc. Giống cuốn sách đầu tiên,
    thành công của cuốn này lại đưa tác giả xuất hiện trong
    chương trình Oprah. Trong một vài năm qua, các xuất bản
    phẩm về kinh tế có uy tín như Harvard Business Review và
    Fast Company, đã nhanh chóng xóa bỏ bất kỳ quan niệm
    không đúng nào cho rằng, trí tuệ xúc cảm là một ý tưởng nào
    đó “mờ nhạt, cảm giác là tốt” và không có chỗ đứng trong thế
    giới thực.
    Những quan niệm sai lầm
    Kể từ khi thuật ngữ trí tuệ xúc cảm ra đời, đã có một số quan
    niệm không đúng về việc hiểu ý nghĩa của nó. Không hề đào
    sâu tìm hiểu thuật ngữ này thật sự nghĩa là gì, mọi người đã

    vội vã đi đến kết luận chỉ với căn cứ vào nghĩa của từ xúc
    cảm. Trong cuốn sách Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công
    việc, Daniel Goleman đã cố gắng định hướng lại cho đúng và
    làm rõ một số quan niệm sai lầm xung quanh thuật ngữ trí tuệ
    xúc cảm.
    Tốt
    Không chỉ đơn giản là tốt, trí tuệ xúc cảm có thực, cởi mở và
    thành thật khi nói về các cảm giác của mình. Điều này có thể
    cần tới sự dũng cảm, vì lảng tránh vấn đề thường dễ hơn việc
    đối mặt trực tiếp với nó. Đúng hơn, chúng ta cần phải thực tế
    trong các mối tương tác với những người khác. Trong khi
    chúng ta nên nhạy cảm trước xúc cảm của những người khác,
    việc bỏ qua, xem nhẹ hành vi tiêu cực hoặc phá hoại sẽ không
    giúp được họ. Nếu chúng ta thật sự quan tâm tới ai đó, chúng
    ta phải thẳng thắn và trung thực cho dù nó có thể khiến chúng
    ta không thoải mái và không được trân trọng vào lúc đó.
    Những người bạn thật sự cuối cùng sẽ trân trọng vì chúng ta
    đã đủ can đảm và quan tâm để có thể trung thực với họ.
    Bộc lộ hoàn toàn
    Như Goleman đã chỉ ra: “Trí tuệ xúc cảm không có nghĩa là để
    cho cảm xúc tự do phát triển – 'để nó bộc lộ hết ra ngoài', mà
    thay vào đó, nó có nghĩa là quản lý cảm xúc để chúng được
    thể hiện một cách phù hợp và hiệu quả, khiến mọi người có
    thể làm việc cùng nhau một cách trôi chảy, cùng hướng tới
    những mục đích chung.”[2]
    Cũng có những thời gian và địa điểm mà ta phải thể hiện xúc
    cảm mạnh mẽ với những người khác. Ví dụ, buổi họp nhân
    viên không thích hợp để trút cơn giận dữ lên một đồng nghiệp.
    Sau đó, khi chúng ta đã bình tĩnh, suy nghĩ kỹ càng và trong

    không gian riêng tư với người đồng nghiệp đó, thì đó mới là
    thời gian và không gian phù hợp.
    Phụ nữ có nhiều trí tuệ cảm xúc hơn
    Một khía cạnh khác của EI, thường bị hiểu sai, là sự khác biệt
    về năng lực tự nhiên của hai giới trong việc biểu đạt trí tuệ xúc
    cảm. Trong xã hội chúng ta, phụ nữ vẫn luôn có quyền tự do
    và được phép thể hiện cảm xúc hơn nam giới rất nhiều. Điều
    này đang dần thay đổi, văn hóa phương Tây đã bắt đầu thức
    tỉnh trước những hậu quả tiêu cực của việc không cho phép
    nam giới thoải mái bộc lộ xúc cảm của mình. Vì nói chung,
    phụ nữ vẫn luôn cởi mở và hay biểu đạt cảm xúc của mình hơn
    nên một số cho rằng phụ nữ sẽ giỏi hơn nam giới trong tất cả
    các lĩnh vực của EI. Daniel Goleman đã cố gắng làm rõ những
    quan niệm sai lầm liên quan tới sự khác biệt về giới khi ông
    viết rằng “phụ nữ không 'trí tuệ hơn' nam giới khi nói về trí
    tuệ xúc cảm, và nam giới cũng không siêu đẳng hơn phụ nữ.
    Mỗi người trong chúng ta đều có một hồ sơ cá nhân riêng, với
    những điểm mạnh và điểm yếu về những năng lực này. Một số
    trong chúng ta có thể rất thấu cảm nhưng lại thiếu khả năng
    giải quyết nỗi phiền muộn của chính mình; những người khác
    có thể nhận biết được những thay đổi rất nhỏ trong tâm trạng
    của người khác nhưng lại rất lạc lõng về mặt xã hội.”[3]
    Khi tổng hợp các hồ sơ nam/nữ, chúng tôi thấy rằng nhìn
    chung phụ nữ nhận biết xúc cảm của mình tốt hơn và giỏi thiết
    lập các mối quan hệ với người khác hơn, trong khi nam giới dễ
    thích nghi và xử lý căng thẳng tốt hơn. Tuy nhiên, điều quan
    trọng cần nhớ là, phát hiện này không giải thích cho các biến
    đổi ở mỗi cá nhân. Cũng có những người đàn ông biết rất rõ
    những cảm xúc của mình và có thể tạo những mối quan hệ bền
    chặt, cũng như có những phụ nữ có thể thích nghi dễ dàng và
    xử lý căng thẳng tốt.

    Trí tuệ xúc cảm không được quyết định từ lúc con người
    sinh ra
    Khía cạnh thú vị và hứa hẹn nhất của trí tuệ xúc cảm là chúng
    ta có thể thay đổi nó. Nói cách khác, không giống IQ, chúng ta
    không bị bó buộc vào những gì chúng ta có lúc được sinh ra.
    Tin tuyệt vời về EQ là, nó không phải là chỉ số cố định hay chỉ
    phát triển trong một giai đoạn nào đó của cuộc đời. Người ta
    đã chứng minh rằng, các trải nghiệm cuộc sống có thể được sử
    dụng để nâng cao EQ, rằng chúng ta có thể tiếp tục phát triển
    khả năng của mình để học và điều chỉnh kể cả khi đã có tuổi.
    Lĩnh vực EQ thật sự đem lại phần thưởng khi chúng ta trải qua
    trường đời một cách thành công.
    [1] Đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm
    2007.
    [2] Daniel Goleman, Working with Emotional Intelligence
    (New York: Bantam Books, 1998), trang 6.
    [3] Sách đã dẫn, trang 7.

    2
    MỐI LIÊN HỆ VỚI LĨNH VỰC
    KINH DOANH

    “Nếu bạn đang làm việc cho một công ty mà không nhiệt tình,
    không đam mê, không sáng tạo, không thông minh, không tò
    mò, chỉ đơn giản làm việc cho vui thì bạn đang gặp rắc rối
    nghiêm trọng rồi.”
    – TOM PETER, CHUYÊN GIA QUẢN LÝ –

    C

    ho đến nay, những bước tiến của trí tuệ xúc cảm chủ
    yếu được thúc đẩy bởi lĩnh vực kinh doanh và công
    nghiệp. Các nhà lãnh đạo trong hai lĩnh vực này đã
    nhanh chóng nhận ra lợi ích của việc có được những nhà quản
    lý và nhân viên có cấp độ trí tuệ xúc cảm cao. Nói một cách
    đơn giản, có một mối liên hệ trực tiếp giữa cấp độ EI với năng
    suất làm việc của người lao động. Biết cách kết hợp hiệu quả
    với những người khác trong cùng tổ chức là một trong những
    kỹ năng được đề cao trong bất kỳ tổ chức nào. Khi chủ lao
    động được yêu cầu liệt kê những kỹ năng hàng đầu mà họ tìm
    kiếm ở người lao động, những kỹ năng con người luôn được
    xếp hàng đầu. Những kỹ năng kỹ thuật có thể học được, song
    sẽ khó hơn rất nhiều nếu muốn thay đổi kỹ năng ứng xử hoặc
    thay đổi kỹ năng quan hệ với người khác của ai đó.
    Ngày nay, các doanh nghiệp phải đối mặt với những thách
    thức rất lớn. Các nghiên cứu và thống kê cho thấy, nhiều công
    ty còn cách rất xa mô hình làm việc lý tưởng mà bậc thầy về
    quản lý Tom Peters miêu tả. Theo tờ Psychological Today, có
    đến 40% tổng số người lao động bị ảnh hưởng từ stress và một
    triệu công nhân phải nghỉ mỗi ngày vì các vấn đề liên quan tới
    stress. Chi phí ước tính từ việc thiệt hại năng suất này đối với
    nền kinh tế Mỹ là gần 200 tỷ đô-la. Trường Quản lý Yale đã

    hoàn thành một điều tra cho thấy, 24% người lao động cáu
    giận kinh niên tại nơi làm việc. Với thực tế mà các công sở
    ngày nay đang phải đối mặt, sẽ không mấy ngạc nhiên khi các
    công ty quyết tâm tìm cách xây dựng môi trường làm việc lành
    mạnh và hiệu quả hơn.
    Xét từ góc độ của một chủ lao động, kết quả cũng không hứa
    hẹn hơn. Trong cuốn Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công
    việc, Daniel Goleman tiết lộ kết quả của một cuộc điều tra về
    các chủ lao động người Mỹ, cho thấy họ phải đấu tranh để tìm
    được nhân viên phù hợp. 40% người lao động gặp rắc rối trong
    quá trình làm việc với đồng nghiệp, gần 20% có thói quen và
    kỷ luật lao động chỉ phù hợp cho những công việc ở mức khởi
    điểm. Các chủ lao động ngày càng than phiền về tình trạng
    nhân viên được tuyển dụng thiếu các kỹ năng con người. Việc
    góp ý cho những lao động trẻ vẫn là một vấn đề vì nhiều người
    xem những ý kiến đóng góp như thể một cuộc tập kích vào cá
    nhân họ và họ rất tức giận. Vấn đề này không giới hạn ở
    những nhân viên mới và nhân viên trẻ. Vào những năm 19601970, để thành công, bạn phải học trường tốt và có điểm số
    tốt. Kết quả là nhiều nhân viên quản lý vươn lên tới những vị
    trí cao mà không phát triển trí tuệ xúc cảm tốt và đạt được sự
    nghiệp đỉnh cao hoặc thậm chí bền vững.
    Cảm xúc tại nơi làm việc
    Từ năm 1935, Edgar Doll - nhà tâm lý học người Australia đã lý giải lý thuyết của ông về việc xúc cảm tạo động lực và
    đưa chúng ta tới thành công. Vì thế, xúc cảm là một phần quan
    trọng trong công việc cũng như trong cuộc sống ngoài công
    việc. Sự hiểu biết về xúc cảm lúc đó không đủ tiến bộ để thế
    giới có thể sẵn sàng lắng nghe những tuyên bố của ông. Phải
    mất hàng thập kỷ, những ý kiến của Doll mới được chấp nhận
    rộng rãi.
    Cách đây ít năm, người ta trông đợi rằng xúc cảm không có
    chỗ ở nơi làm việc. Một trong những lý do được đưa ra cho
    việc loại phụ nữ khỏi lực lượng lao động là vì họ quá giàu xúc
    cảm, và điều đó sẽ không cho họ khả năng thực hiện tốt chức
    năng của mình tại nơi làm việc. Ngày nay quan điểm đó có vẻ
    đã cũ kỹ, nhưng đó chỉ là vì ngày nay có quá nhiều phụ nữ

    tham gia đảm nhiệm những công việc quan trọng. Ý kiến cho
    rằng xúc cảm không có chỗ tại nơi làm việc nghe có vẻ lỗi thời
    như ý kiến cho rằng hút thuốc lá không liên quan gì tới bệnh
    ung thư. Tuy nhiên, nhiều công sở vẫn không thoải mái với ý
    kiến cho rằng, xúc cảm là một phần của mỗi chúng ta và ảnh
    hưởng tới mọi thứ chúng ta làm. Họ dường như vẫn duy trì
    quan niệm rằng có thể để xúc cảm nằm ngoài công việc.
    Thành công trong kinh doanh cơ bản là do khả năng thiết lập
    các mối quan hệ có hiệu quả với những người khác. Những
    người khác này bao gồm đồng nghiệp, quản lý, nhân viên và
    khách hàng của chúng ta. Những công ty có khả năng tạo ra
    mối quan hệ tốt nhất, cả trong nội bộ nhân viên và đối ngoại
    với các khách hàng và nhà cung cấp, là những công ty thành
    công nhất.
    Tôi không chắc liệu Herb Kelleher và những nhà sáng lập
    hãng hàng không Southwest Airlines đã bao giờ nghe nói đến
    Edgar Doll hay chưa khi họ nỗ lực vượt qua trở ngại để sáng
    lập hãng hàng không đầu tiên tại Texas vào năm 1971. Tuy
    nhiên, điều họ biết là cần phải làm gì để tạo động lực cho mọi
    người tại nơi làm việc. Ngay từ đầu, họ tin rằng người ta sẽ
    cho đi tương xứng với những gì họ nhận được. Nếu bạn thật sự
    chăm lo cho nhân viên của mình, đặt họ lên hàng đầu thì họ sẽ
    trả lại cho bạn bằng lòng trung thành và nỗ lực đáng kinh
    ngạc. Kết quả cuối cùng là một tổ chức rất thành công.
    Nghiên cứu tình huống: Southwest Airlines
    Một điển hình về công ty đã làm được việc rất
    tuyệt vời là, gõ vào cánh cửa trí tuệ xúc cảm
    để mở ra một môi trường làm việc năng động,
    dễ chịu và như một gia đình: hãng hàng không
    Southwest Airlines. Tổ chức này đã được
    nghiên cứu rộng rãi làm ví dụ về việc làm thế
    nào để tạo ra văn hóa làm việc lành mạnh. Lý
    do khiến Southwest Airlines nhận được sự chú
    ý như vậy là vì, đó không chỉ là nơi làm việc
    tuyệt vời mà còn là một tổ chức rất thành
    công, là chủ lao động rất có trách nhiệm về

    mặt xã hội, thật sự chăm lo cho nhân viên của
    mình.
    Tuy nhiên, thành công của hãng hàng không
    này lại thu hút rất nhiều sự chú ý của giới kinh
    doanh. Được thành lập vào năm 1971 với mục
    đích vận tải tuyến ngắn đặt trụ sở bên ngoài
    Love Field ở Dallas, câu chuyện kinh doanh
    thành công của hãng đã thật sự gây chú ý. Từ
    năm 1973, năm nào hãng cũng làm ăn có lãi
    trong khi hầu hết những hãng hàng không khác
    đều không thể liên tục có lãi trong hơn hai
    năm. Ngay cả sau vụ tấn công khủng bố ngày
    11 tháng 9 năm 2001, khi các hãng hàng
    không khác phải chịu nhiều thiệt hại,
    Southwest vẫn mở rộng thị phần. Trong khi
    các hãng hàng không khác sa thải hàng nghìn
    nhân viên, Southwest, vẫn làm được điều họ
    vẫn thường làm, duy trì được toàn bộ số nhân
    viên. Điều này được giữ vững theo truyền
    thống của hãng là chăm lo cho con người.
    Giới báo chí kinh doanh đã chú ý và thường
    xuyên bình luận về thành công của Southwest.
    Tạp chí Fortune gọi đây là “hãng hàng không
    thành công nhất trong lịch sử.”[1]
    Tuy thành công cá biệt của hãng hàng không
    này nhờ vào nhiều phương pháp đổi mới
    nhưng cuốn sách này sẽ tập trung vào khía
    cạnh con người. Southwest có tốc độ thay thế
    nhân công thấp hơn các đối thủ cạnh tranh
    khác và liên tục ghi điểm cao hơn trong các
    cuộc điều tra sự thỏa mãn của nhân viên. Hãng
    được nằm trong danh sách ”100 công ty có
    môi trường làm việc tốt nhất tại Mỹ” của tạp
    chí Fortune trong ba năm liền. Rất nhiều công
    ty đã cố cạnh tranh với chiến lược kinh doanh
    của Southwest. Tuy nhiên, cuối cùng, chính
    những người làm việc cho một tổ chức mới là

    yếu tố khiến tổ chức đó hoạt động. Thành công
    của bất kỳ tổ chức nào đều phụ thuộc vào các
    mối quan hệ được phát triển giữa ban quản trị,
    nhân viên, khách hàng và nhà cung cấp. Cạnh
    tranh về thủ thuật kinh doanh là một nhiệm vụ
    tương đối đơn giản so với việc xây dựng một
    nền văn hóa, từ đó tạo ra một gia đình trong đó
    thành viên là những nhân viên trung thành, tận
    tụy, chăm lo cho công việc, quan tâm lẫn nhau
    và quan tâm tới cả những khách hàng họ phục
    vụ.
    Sau những vụ sa thải hàng loạt diễn ra tại các
    hãng hàng không khác sau ngày 11 tháng 9
    năm 2001, một nhân viên lâu năm của hãng
    hàng không Southwest nhận xét rằng ông
    không ngạc nhiên khi hãng này không để bất
    kỳ một ai ra đi. Ông nói với phóng viên rằng
    đó là một phần của văn hóa công ty: họ sẽ làm
    bất kỳ điều gì phải làm để chăm sóc người của
    họ. Một văn hóa như vậy có được không phải
    là tình cờ, mà phải bằng cách không ngừng áp
    dụng các nguyên tắc và hành động theo thời
    gian để thể hiện cho nhân viên thấy, họ được
    quan tâm và cho phép họ sử dụng và phát triển
    tiềm năng của mình.
    ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách hay cũng giống như trò chuyện với các bộ óc tuyệt vời nhất của những thế kỷ đã trôi qua. (Rene Descartes)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH HẢI - THANH HÀ - HẢI DƯƠNG !