Thư viện Trường TH Thanh Hải - Thanh Hà - Hải Dương
Trí Thông Minh Thực Dụng - Harvey Deutschendorf

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:04' 07-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:04' 07-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
BÍ QUYẾT CỦA HẠNH PHÚC
C
húng ta hẳn đã có lần đặt câu hỏi, tại sao có những
người thành công khá dễ dàng còn một số khác lại
phải vật lộn cả đời mà vẫn không có được thành công
như vậy, dù đã loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, may mắn hay
nền tảng khác.
Trí thông minh thực dụng sẽ giúp các bạn trả lời một phần
nào đó câu hỏi trên. Cuốn sách sẽ khai mở cho chúng ta về trí
tuệ cảm xúc (EI) của con người, tìm hiểu thế giới nội tâm và
thế giới bên ngoài, từ đó giải quyết các vấn đề liên quan đến
khả năng thích ứng, kiểm soát căng thẳng, và chúng ta cũng
nhận thức được vai trò của EI trong cuộc sống của mỗi người.
Từ thế kỷ XX, các nhà tâm lý học đã bắt tay vào việc nghiên
cứu nghiêm túc các dạng trí tuệ khác nhau, và cho rằng ngoài
IQ còn có những lĩnh vực khác cần xem xét, đó chính là khởi
nguồn cho trí tuệ cảm xúc ngày nay. Đúng như trong cuốn
sách này khẳng định, mục đích của EI là giải quyết các vấn đề
“làm thế nào” của cuộc sống chứ không giải quyết câu hỏi “vì
sao”. Và điều này đang dần trở nên thiết thực hơn, quan trọng
hơn với tất cả chúng ta, bởi mỗi chúng ta đều đang tìm cách
làm thế nào để có một cuộc sống hạnh phúc hơn, một công
việc thành công hơn và một cuộc đời đáng sống hơn.
Cuốn sách đưa chúng ta tìm về cội nguồn của vấn đề, đó là
phải có mục đích rõ ràng để thuyết phục bản thân làm điều này
hay điều khác. Bởi từ xa xưa, các triết gia đã cho rằng, hạnh
phúc chính là việc theo đuổi một mục tiêu nào đó. Ngày nay,
việc lựa chọn mục đích tùy thuộc vào mỗi cá nhân, mỗi người
tự tìm cho mình một mục tiêu nhất định để đạt tới.
Ở Việt Nam thời gian gần đây rộ lên việc giáo dục kỹ năng
mềm cho các độ tuổi, cả trong và ngoài nhà trường. Trước đây,
việc giáo dục còn nặng về kiến thức, các cá nhân không được
trang bị về những kỹ năng như giải quyết tình huống hay giải
tỏa căng thẳng… Giờ đây, khi được học và hiểu về những kỹ
năng này, con người linh hoạt hơn trong các tình huống cuộc
sống, cũng dễ dàng đương đầu được với những áp lực từ cả xã
hội và công việc vốn đang ngày càng đè nặng lên mỗi cá nhân.
Để tìm ra được mục đích của mình cũng như trả lời cho câu
hỏi làm thế nào để có được cuộc sống thú vị hơn, công việc
thành công hơn, trang bị kiến thức về trí tuệ cảm xúc và thấu
hiểu về tâm lý con người trong xã hội hiện đại là hoàn toàn
cần thiết.
Đặc biệt cuốn sách có rất nhiều câu chuyện thực tế để người
đọc có thể rút ra những bài học bổ ích cho việc tăng cường trí
tuệ cảm xúc bản thân cũng như ứng dụng trong cuộc sống.
Đây là một cẩm nang chi tiết, giúp bạn đạt được những mục
tiêu thiết thực cho cuộc đời mình.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 3 năm 2011
NGUYỄN HỒNG CHƯƠNG
Chủ tịch HĐQT
Công ty Cổ phần Đào tạo Nghề Đông Dương
GIỚI THIỆU
C
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
ông cụ mạnh nhất là công cụ con người sẽ sử dụng.
Những kỹ thuật trong cuốn sách này thật đơn giản, dễ
hiểu và dễ sử dụng, không đòi hỏi nhiều thời gian. Tôi
hiểu và tôn trọng thực tế rằng, trong cuộc đời, bạn có nhiều
mối quan tâm khác nhau mà thời gian thì hữu hạn. Dù có thể
bạn rất quan tâm tới trí tuệ xúc cảm thì điều đó vẫn phải phù
hợp với thế giới của bạn, chứ không phải ngược lại. Cuốn sách
này cung cấp cho bạn những kỹ thuật đơn giản, hiệu quả và
chỉ cần năm phút mỗi ngày.
Thành công không phải là một bước đột phá. Nó là sự tích lũy
những thay đổi nhỏ có được nhờ sự kiên trì, kỷ luật tự giác và
học cách tận dụng tối đa trí tuệ xúc cảm. Với câu hỏi: Nâng
cao trí tuệ xúc cảm có khó không, câu trả lời là có và không.
Không, vì nó không khó về mặt kỹ thuật. Nó không đòi hỏi
kiến thức đặc biệt, chỉ số IQ cao hay cần nhiều bí quyết kỹ
thuật. Nhưng nó không dễ thực hiện. Nó đòi hỏi ý thức kỷ luật
tự giác để duy trì hành động trong một khoảng thời gian dài,
ngay cả khi không có kết quả rõ ràng ngay lập tức. Có thể
trong phần lớn cuộc đời, tiềm thức chúng ta đã hoạt động theo
những cơ chế mặc định tự hủy hoại bản thân. Thời xa xưa,
cùng với bản năng sinh tồn, nhiều cơ chế hành vi ra đời do sự
cần thiết, nhằm giúp loài người thoát khỏi những tình huống
khó khăn. Nhiều người trong chúng ta dựa vào nỗi giận dữ và
các xúc cảm mạnh khác để đối phó và thoát khỏi những gia
đình bất ổn, những tình huống không may khác trong thời kỳ
được nuôi dưỡng. Tuy nhiên, khi thoát ra khỏi hoàn cảnh đó,
sự tức giận không còn giúp chúng ta nhiều nữa mà thậm chí
còn chống lại chúng ta. Lúc đó, điều quan trọng là chúng ta
phải nhận ra rằng suy nghĩ và hành vi trước đây từng cần thiết
nay đã trở nên lỗi thời, có hại và chúng ta phải nỗ lực phát
triển cách suy nghĩ mới về bản thân, về những người xung
quanh và về môi trường của chúng ta. Những gì va vấp phải
trong những năm tháng trưởng thành sẽ có ảnh hưởng đối với
chúng ta cho đến tận cuối đời – tại nơi làm việc, trong gia đình
và trong tất cả những quan hệ tương tác của chúng ta với thế
giới.
Mặc dù một vài điều chúng ta học được là tốt và sẽ rất có ích
thì cũng có một số điều có thể phá hoại tương lai của chúng ta.
Tin tốt là chúng ta có thể thay đổi những gì đã học trong quá
khứ và học được những cách mới và tốt hơn để tương tác với
thế giới xung quanh. Không giống chỉ số thông minh (IQ) –
gần như được ấn định cả đời khi chúng ta bước vào tuổi
trưởng thành, chúng ta có thể thay đổi được trí tuệ xúc cảm
(EI).
Bước đầu tiên là xác định đâu là sở trường của bạn và điều gì
có ích cho bản thân. Trong cuốn sách Go Put Your Strengths to
Work (Tạm dịch: Kích hoạt sức mạnh của bạn), tác giả Marcus
Buckingham nói rằng, chúng ta nên tập trung vào việc tạo ra
một môi trường làm việc sử dụng các thế mạnh nhiều hơn là
quan tâm tới những điểm yếu.
Lý thuyết của ông cho rằng, sẽ có lợi hơn khi chúng ta tập
trung và cải thiện những lĩnh vực mà chúng ta vốn đã giỏi và
có tài năng. Quan điểm này giống với tâm lý học tích cực,
khẳng định rằng khi giúp đỡ người khác, chúng ta sẽ đạt được
kết quả tốt hơn nhiều nếu tập trung vào những thế mạnh thay
vì những điểm yếu của họ. Đây là một sự thay đổi có ý nghĩa
so với quá khứ, khi đó tâm lý học tập trung chủ yếu vào các
điểm yếu và làm thế nào để cải thiện chúng. Nói chung, tôi
nghĩ rằng tập trung vào điểm mạnh là cách làm đúng đắn. Bất
kỳ khi nào đưa ra ý kiến đánh giá EI cho ai đó hoặc khi hướng
dẫn, đầu tiên tôi xác định và nói về các thế mạnh của người đó
trước khi nhìn nhận những thách thức. Tuy nhiên, trong khi
tập trung vào các điểm mạnh, vẫn có một số lĩnh vực chúng ta
không được phép bỏ qua, ngay cả nếu đó không phải là sở
trường của chúng ta. Các lĩnh vực quan trọng này sẽ hủy hoại
chúng ta và phủ nhận những thế mạnh của bản thân nếu chúng
không được quản lý tốt.
Câu hỏi, vì sao một số người thì thành công, trong khi những
người khác phải vật lộn cả đời và đạt được rất ít thành công,
vẫn luôn hấp dẫn loài người. Trong phần lớn thế kỷ XX, chúng
ta vẫn để tin rằng, đó là vì trí thông minh nhận thức, hay IQ,
quyết định mức độ thành đạt của chúng ta. Tuy nhiên, thực tế
phổ biến và năng lực quan sát giản đơn của chúng ta cho
chúng ta biết rằng điều này không đúng, rằng hẳn phải có
nhiều yếu tố dẫn tới thành công hơn việc chúng ta đạt kết quả
thế nào trong các bài kiểm tra ở trường.
Trong cuốn Successful Intelligence (Tạm dịch: Trí tuệ thành
đạt), Robert Sternberg xem xét trường hợp của hai sinh viên
tốt nghiệp trường Yale và cách họ thể hiện trong thế giới thực.
Penn là một thành viên sáng tạo và xuất sắc của lớp, có thể
đưa ra những ý tưởng của riêng mình. Về lý thuyết, anh chắc
chắn là sinh viên tốt nghiệp thủ khoa trường Yale. Chỉ có duy
nhất một vấn đề, Penn khá kiêu ngạo và gần như hoàn toàn
thiếu những kỹ năng thực tế.
Mặc dù Penn được tất cả các công ty hàng đầu phỏng vấn, sự
kiêu ngạo khiến không công ty nào tiếp nhận anh cả. Lời đề
nghị duy nhất đến từ một công ty hạng hai và anh cũng chỉ có
thể trụ ở đó được ba năm.
Còn người kia, Mart, bạn cùng phòng của Penn, không giỏi về
học lực nhưng lại có trí tuệ xã hội tuyệt vời. Mart nhận được
bảy lời đề nghị sau tám cuộc phỏng vấn. Dù không xuất sắc
nhưng anh luôn là người đáng tin cậy và các kỹ năng xã hội
giúp sự nghiệp của anh ngày càng phát triển.
Hãy nghĩ lại thời kỳ học phổ thông của bạn. Bạn có nhớ những
bạn học sáng giá có điểm số tuyệt vời và mọi người đều trông
đợi họ sẽ làm được những điều vĩ đại cho thế giới? Họ có làm
tốt như mọi người trông đợi? Thế còn những học sinh bị mọi
người cười nhạo vì bỏ học đi bán xe cũ? Trong các buổi họp
lớp, bạn có thấy những học sinh xuất sắc trước kia thì lái taxi,
còn những học sinh bỏ học lại trở thành triệu phú?
Tất cả chúng ta đều biết những câu chuyện tương tự như vậy,
biết những người từng rất giỏi khi nhìn vào điểm số họ đạt
được ở trường, nhưng lại phải vật lộn để thích nghi với xã hội.
Ted Kaczynski[1] – được mệnh danh là “Unabomber” (kẻ
chuyên đánh bom máy bay và trường đại học) và tên Ted - Ted
Bundy khét tiếng[2] - chỉ là hai trong nhiều ví dụ nổi tiếng.
Mặt khác, chúng ta biết ai đó có thể sẽ không đạt được kết quả
cao trong bài kiểm tra IQ nhưng vẫn sống rất tốt. Do đó, quan
niệm rằng phải có những yếu tố khác – ngoài IQ – tham gia
vào việc xác định thành công của một người, không phải là
điều gì ngạc nhiên đối với phần lớn chúng ta. Trong đời mình,
chúng ta vẫn luôn thấy điều này.
Ví dụ, trong cuốn sách Working with Emotional Intelligence
(Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công việc)[3], Daniel
Goleman đã khảo sát trường hợp của một công ty tư vấn để
tìm ra những hậu quả do thiếu khả năng kiểm soát sự tùy
hứng. Các nghiên cứu về trường hợp thất bại trong công việc được tiến hành nhờ hồ sơ của công ty tư vấn, đã đánh giá từng
nhân viên trong đợt kiểm tra trên 4.265 người, từ lãnh đạo
công ty cho tới những người lao động chân tay.
Trong những phát hiện của Goleman có trường hợp một nhà
quản lý doanh nghiệp. Người này khá hung hăng với tất cả
những người ông ta tiếp xúc. Cuối cùng, ông ta bị sa thải vì
một nữ nhân viên tố cáo tội quấy rối tình dục. Một trường hợp
khác, một nhà quản lý hướng ngoại khác thường, nổi tiếng vì
phong cách thoải mái và thích tụ tập đã vượt quá ranh giới bảo
mật và rốt cuộc bị sa thải vì để lộ thông tin mật của công ty.
Tương tự, cả CEO và CFO được tuyển chọn kỹ lưỡng của ông
ta đều bị sa thải do quản lý kém nguồn ngân sách của công ty.
Cả hai đều thiếu đạo đức và ít quan tâm tới tác động do hành
động của mình gây ra.
Tất cả những người này đều thiếu khả năng kiểm soát cơn bốc
đồng của mình. Họ có rất ít, hoặc thậm chí không có, khả năng
trì hoãn sự thỏa mãn tức thời. Nếu biết tự kiềm chế, con người
có thể suy nghĩ kỹ lưỡng về hậu quả có thể xảy ra với những
gì họ chuẩn bị làm và chịu trách nhiệm về lời nói, việc làm của
mình.
Hãng tư vấn đó đã nghiên cứu về sự tự kiềm chế trong công
việc và khuyên rằng, “khi lựa chọn nhân lực cho công việc
thuộc lĩnh vực công nghiệp – ở tất cả các cấp độ – sẽ là khôn
ngoan khi từ chối những ứng viên có mức tự kiềm chế thấp
hoặc rất thấp”, vì “khả năng họ gây ra rắc rối là vô cùng lớn”.
(Tuy vậy, công ty này cũng lưu ý rằng con người có thể được
giúp đỡ để xử lý tốt hơn tính bốc đồng của họ - kiểm soát cơn
bốc đồng kém không nhất thiết là bản án tử hình cho sự nghiệp
của người đó).
Nhiều công việc, cuộc hôn nhân, mối quan hệ và tình bạn khác
lại bị phá hủy bởi ai đó, trong một khoảnh khắc tức giận, nói
ra những lời do sự thúc bách của tình thế mà sau đó họ phải
dành cả đời để nuối tiếc. Do đó, điều quan trọng là phải xác
định những lĩnh vực có khả năng gây hại cho chúng ta và ít
nhất phải trung hòa chúng để chúng không trở thành những vật
cản đường tới thành công.
Không may là bộ não của chúng ta không được lập trình như
máy tính; chúng ta không thể đơn giản đăng nhập và thay đổi
cài đặt trong vòng vài giây. Tuy nhiên, chúng ta có thể phát
triển những trạng thái mặc định mới bằng cách liên tục rèn
luyện các cách giải quyết vấn đề tốt hơn. Qua thời gian, những
kỹ thuật này sẽ trở nên dễ dàng hơn và cảm giác là một phần
thực con người ta vậy. Khi đó, những suy nghĩ và hành vi
trước đây sẽ bắt đầu có vẻ không tự nhiên và không còn quen
thuộc nữa.
Lúc này chúng ta sẽ biết rằng, một thay đổi thật sự và lâu dài
đang hình thành trong cuộc sống của chúng ta và thay đổi
chúng ta theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Cuối cùng, những mẫu
thức mới này sẽ trở thành trạng thái mặc định mới của chúng
ta, tự nhiên và tự động đến với chúng ta.
[1] Theodore John “Ted” Kaczynski (1942): Một nhà toán học
thông minh và là Giáo sư khoa toán tại U. C. Berkeley, nhưng
lại là kẻ thù ghét xã hội. Từ năm 1978, y bắt đầu gửi bom,
đánh bom, khiến ba người thiệt mạng và 23 người bị thương.
Cơ quan FBI đã truy lùng y mãi đến năm 1996 mới bắt được.
Đó là vụ “Unabomber”, ký hiệu của FBI dành cho tên khủng
bố chuyên đánh bom các trường đại học và hãng hàng không.
[2] Theodore Robert “Ted” Bundy (1946-1989): Đẹp trai,
thông minh, học hành xuất sắc và có một tương lai chính trị
đầy hứa hẹn, nhưng lại là một trong những kẻ giết người hàng
loạt ghê rợn nhất lịch sử nước Mỹ từ 1973-1978. Hắn thú nhận
đã giết 30 người, nhưng con số thực tế còn lớn hơn rất nhiều.
[3] Đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm
2007.
Phần I
TRÍ TUỆ XÚC CẢM
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
1
EI LÀ GÌ?
“Phát kiến vĩ đại nhất của thế hệ tôi là loài người có thể thay
đổi cuộc sống của mình bằng cách thay đổi cách nghĩ.”
– WILLIAM JAMES, NHÀ TÂM LÝ HỌC VÀ TRIẾT
HỌC –
Ý
kiến cho rằng, xúc cảm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc
sống, không phải là mới. Nó tồn tại từ khi loài người
có mặt trên trái đất. Những nhà triết học Hy Lạp cổ
đại đã nói về ảnh hưởng của xúc cảm tới bản thân họ và những
người xung quanh họ. Trong một vài thập kỷ qua, chúng ta đã
đạt được những bước đột phá quan trọng trong nghiên cứu xúc
cảm và tác động của chúng đối với đời sống.
Lịch sử khái niệm
Trong những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu và
các nhà tâm lý học đã bắt đầu nghiên cứu một cách nghiêm túc
các dạng trí tuệ khác nhau. Trước thời điểm bài kiểm tra IQ
được thiết lập và sử dụng tại các trường học, David Wechsler,
người phát triển phiên bản IQ mới nhất vào năm 1940, đã cảm
thấy rằng có những lĩnh vực trí tuệ khác cần phải được đo
lường. Ông suy luận rằng một trong những lĩnh vực chúng ta
cần xem xét chính là lĩnh vực mà ngày nay gọi là trí tuệ xúc
cảm. Năm 1955, Albert Ellis, người sáng lập liệu pháp lý tríxúc cảm, suy đoán rằng con người có thể học cách giải quyết
xúc cảm bằng cách sử dụng giải thích. Năm 1980, Tiến sỹ
Reuven BarOn, một học giả và nhà tâm lý học người Israel,
bắt đầu nghiên cứu ảnh hưởng của xúc cảm tới hoạt động chức
năng của con người.
Sử dụng công trình của bản thân và những nhà nghiên cứu
trước đó, BarOn bắt đầu phát triển bài kiểm tra EQ, cho trí tuệ
xúc cảm. Đây là đánh giá trí tuệ xúc cảm đầu tiên có giá trị
khoa học. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ đã chứng nhận bài
kiểm tra này, và nó được biết đến với tên gọi BarOn EQ-i®,
hay Bản kê chỉ số xúc cảm.
Thuật ngữ trí tuệ xúc cảm được cho là do John Mayer, Đại học
New Hampshire và Peter Salovey, Đại học Yale, nghĩ ra. Năm
1990, hai giáo sư tâm lý học, cùng với đồng nghiệp David
Caruso, đã phát triển một bài kiểm tra trí tuệ xúc cảm khác.
Bài kiểm tra của họ, có tên Kiểm tra Trí tuệ Xúc cảm MayerSalovey-Caruso (MSCEIT), là bài kiểm tra trí tuệ xúc cảm dựa
trên năng lực. Vấn đề xoay quanh ai thật sự là người phát hiện
ra trí tuệ xúc cảm hay ai là người đầu tiên đặt ra thuật ngữ này
là điểm vẫn còn phải tranh cãi. Cơ sở tri thức của chúng ta đã
tiến bộ tới mức các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học xã hội
đã tạo ra những đột phá mới trong các lĩnh vực chức năng hoạt
động của con người. Với hiểu biết mới, chúng ta đã có thể đo
và kiểm tra ảnh hưởng của xúc cảm trong đời sống một cách
chính xác và có ý nghĩa.
Hãy nghĩ về điều này cũng giống như các đột phá công nghệ
đối với xe hơi và máy bay. Mặc dù anh em nhà Wright đã lưu
danh vào lịch sử là những người thực hiện chuyến bay đầu
tiên, thì vẫn có những người khác cũng cố gắng thực hiện điều
đó và cũng đã đạt đến rất gần chuyến bay đó. Công nghệ đã
tiến bộ tới mức có thể thực hiện bay bằng máy bay và lúc đó
cũng đã có những nhà phát minh ở tất cả những nước công
nghiệp như Anh, Pháp và Đức. Họ cũng đang tiến rất gần tới
việc đột phá đó. Nếu anh em nhà Wright không thực hiện
chuyến bay lịch sử với chiếc Kitty Hawk thì có thể là một ai
khác cũng sẽ bay ngay sau thời điểm đó. Đó là vấn đề thời
điểm của ai đến trước. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng với
trí tuệ xúc cảm.
Năm 1995, Daniel Goleman xuất bản cuốn Emotional
Intelligence (Tạm dịch: Trí tuệ xúc cảm)[1]. Cuốn sách tổng
kết lại những công trình đã được thực hiện trong lĩnh vực này
tới thời điểm đó. Nó trở thành cuốn sách bán chạy, và
Goleman xuất hiện với tư cách khách mời trong chương trình
Oprah Winfrey Show. Nếu có một thời điểm định rõ cho trí tuệ
xúc cảm thì chính là đây. Nhận thức của công chúng về khái
niệm này, cho đến trước thời điểm này vẫn còn rất ít, đến lúc
này đã phát triển nhảy vọt. Mọi người bắt đầu nói về trí tuệ
xúc cảm khi các bài báo xuất hiện trên các tạp chí lớn như
Time và Newsweek.
Năm 1998, Goleman tiếp nối thành công của mình bằng cuốn
Emotional Intelligence in the Workplace (Tạm dịch: Trí tuệ
xúc cảm tại công sở), trong đó ông nghiên cứu các doanh
nghiệp được lợi như thế nào nhờ việc thực hiện các khái niệm
trí tuệ xúc cảm tại nơi làm việc. Giống cuốn sách đầu tiên,
thành công của cuốn này lại đưa tác giả xuất hiện trong
chương trình Oprah. Trong một vài năm qua, các xuất bản
phẩm về kinh tế có uy tín như Harvard Business Review và
Fast Company, đã nhanh chóng xóa bỏ bất kỳ quan niệm
không đúng nào cho rằng, trí tuệ xúc cảm là một ý tưởng nào
đó “mờ nhạt, cảm giác là tốt” và không có chỗ đứng trong thế
giới thực.
Những quan niệm sai lầm
Kể từ khi thuật ngữ trí tuệ xúc cảm ra đời, đã có một số quan
niệm không đúng về việc hiểu ý nghĩa của nó. Không hề đào
sâu tìm hiểu thuật ngữ này thật sự nghĩa là gì, mọi người đã
vội vã đi đến kết luận chỉ với căn cứ vào nghĩa của từ xúc
cảm. Trong cuốn sách Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công
việc, Daniel Goleman đã cố gắng định hướng lại cho đúng và
làm rõ một số quan niệm sai lầm xung quanh thuật ngữ trí tuệ
xúc cảm.
Tốt
Không chỉ đơn giản là tốt, trí tuệ xúc cảm có thực, cởi mở và
thành thật khi nói về các cảm giác của mình. Điều này có thể
cần tới sự dũng cảm, vì lảng tránh vấn đề thường dễ hơn việc
đối mặt trực tiếp với nó. Đúng hơn, chúng ta cần phải thực tế
trong các mối tương tác với những người khác. Trong khi
chúng ta nên nhạy cảm trước xúc cảm của những người khác,
việc bỏ qua, xem nhẹ hành vi tiêu cực hoặc phá hoại sẽ không
giúp được họ. Nếu chúng ta thật sự quan tâm tới ai đó, chúng
ta phải thẳng thắn và trung thực cho dù nó có thể khiến chúng
ta không thoải mái và không được trân trọng vào lúc đó.
Những người bạn thật sự cuối cùng sẽ trân trọng vì chúng ta
đã đủ can đảm và quan tâm để có thể trung thực với họ.
Bộc lộ hoàn toàn
Như Goleman đã chỉ ra: “Trí tuệ xúc cảm không có nghĩa là để
cho cảm xúc tự do phát triển – 'để nó bộc lộ hết ra ngoài', mà
thay vào đó, nó có nghĩa là quản lý cảm xúc để chúng được
thể hiện một cách phù hợp và hiệu quả, khiến mọi người có
thể làm việc cùng nhau một cách trôi chảy, cùng hướng tới
những mục đích chung.”[2]
Cũng có những thời gian và địa điểm mà ta phải thể hiện xúc
cảm mạnh mẽ với những người khác. Ví dụ, buổi họp nhân
viên không thích hợp để trút cơn giận dữ lên một đồng nghiệp.
Sau đó, khi chúng ta đã bình tĩnh, suy nghĩ kỹ càng và trong
không gian riêng tư với người đồng nghiệp đó, thì đó mới là
thời gian và không gian phù hợp.
Phụ nữ có nhiều trí tuệ cảm xúc hơn
Một khía cạnh khác của EI, thường bị hiểu sai, là sự khác biệt
về năng lực tự nhiên của hai giới trong việc biểu đạt trí tuệ xúc
cảm. Trong xã hội chúng ta, phụ nữ vẫn luôn có quyền tự do
và được phép thể hiện cảm xúc hơn nam giới rất nhiều. Điều
này đang dần thay đổi, văn hóa phương Tây đã bắt đầu thức
tỉnh trước những hậu quả tiêu cực của việc không cho phép
nam giới thoải mái bộc lộ xúc cảm của mình. Vì nói chung,
phụ nữ vẫn luôn cởi mở và hay biểu đạt cảm xúc của mình hơn
nên một số cho rằng phụ nữ sẽ giỏi hơn nam giới trong tất cả
các lĩnh vực của EI. Daniel Goleman đã cố gắng làm rõ những
quan niệm sai lầm liên quan tới sự khác biệt về giới khi ông
viết rằng “phụ nữ không 'trí tuệ hơn' nam giới khi nói về trí
tuệ xúc cảm, và nam giới cũng không siêu đẳng hơn phụ nữ.
Mỗi người trong chúng ta đều có một hồ sơ cá nhân riêng, với
những điểm mạnh và điểm yếu về những năng lực này. Một số
trong chúng ta có thể rất thấu cảm nhưng lại thiếu khả năng
giải quyết nỗi phiền muộn của chính mình; những người khác
có thể nhận biết được những thay đổi rất nhỏ trong tâm trạng
của người khác nhưng lại rất lạc lõng về mặt xã hội.”[3]
Khi tổng hợp các hồ sơ nam/nữ, chúng tôi thấy rằng nhìn
chung phụ nữ nhận biết xúc cảm của mình tốt hơn và giỏi thiết
lập các mối quan hệ với người khác hơn, trong khi nam giới dễ
thích nghi và xử lý căng thẳng tốt hơn. Tuy nhiên, điều quan
trọng cần nhớ là, phát hiện này không giải thích cho các biến
đổi ở mỗi cá nhân. Cũng có những người đàn ông biết rất rõ
những cảm xúc của mình và có thể tạo những mối quan hệ bền
chặt, cũng như có những phụ nữ có thể thích nghi dễ dàng và
xử lý căng thẳng tốt.
Trí tuệ xúc cảm không được quyết định từ lúc con người
sinh ra
Khía cạnh thú vị và hứa hẹn nhất của trí tuệ xúc cảm là chúng
ta có thể thay đổi nó. Nói cách khác, không giống IQ, chúng ta
không bị bó buộc vào những gì chúng ta có lúc được sinh ra.
Tin tuyệt vời về EQ là, nó không phải là chỉ số cố định hay chỉ
phát triển trong một giai đoạn nào đó của cuộc đời. Người ta
đã chứng minh rằng, các trải nghiệm cuộc sống có thể được sử
dụng để nâng cao EQ, rằng chúng ta có thể tiếp tục phát triển
khả năng của mình để học và điều chỉnh kể cả khi đã có tuổi.
Lĩnh vực EQ thật sự đem lại phần thưởng khi chúng ta trải qua
trường đời một cách thành công.
[1] Đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm
2007.
[2] Daniel Goleman, Working with Emotional Intelligence
(New York: Bantam Books, 1998), trang 6.
[3] Sách đã dẫn, trang 7.
2
MỐI LIÊN HỆ VỚI LĨNH VỰC
KINH DOANH
“Nếu bạn đang làm việc cho một công ty mà không nhiệt tình,
không đam mê, không sáng tạo, không thông minh, không tò
mò, chỉ đơn giản làm việc cho vui thì bạn đang gặp rắc rối
nghiêm trọng rồi.”
– TOM PETER, CHUYÊN GIA QUẢN LÝ –
C
ho đến nay, những bước tiến của trí tuệ xúc cảm chủ
yếu được thúc đẩy bởi lĩnh vực kinh doanh và công
nghiệp. Các nhà lãnh đạo trong hai lĩnh vực này đã
nhanh chóng nhận ra lợi ích của việc có được những nhà quản
lý và nhân viên có cấp độ trí tuệ xúc cảm cao. Nói một cách
đơn giản, có một mối liên hệ trực tiếp giữa cấp độ EI với năng
suất làm việc của người lao động. Biết cách kết hợp hiệu quả
với những người khác trong cùng tổ chức là một trong những
kỹ năng được đề cao trong bất kỳ tổ chức nào. Khi chủ lao
động được yêu cầu liệt kê những kỹ năng hàng đầu mà họ tìm
kiếm ở người lao động, những kỹ năng con người luôn được
xếp hàng đầu. Những kỹ năng kỹ thuật có thể học được, song
sẽ khó hơn rất nhiều nếu muốn thay đổi kỹ năng ứng xử hoặc
thay đổi kỹ năng quan hệ với người khác của ai đó.
Ngày nay, các doanh nghiệp phải đối mặt với những thách
thức rất lớn. Các nghiên cứu và thống kê cho thấy, nhiều công
ty còn cách rất xa mô hình làm việc lý tưởng mà bậc thầy về
quản lý Tom Peters miêu tả. Theo tờ Psychological Today, có
đến 40% tổng số người lao động bị ảnh hưởng từ stress và một
triệu công nhân phải nghỉ mỗi ngày vì các vấn đề liên quan tới
stress. Chi phí ước tính từ việc thiệt hại năng suất này đối với
nền kinh tế Mỹ là gần 200 tỷ đô-la. Trường Quản lý Yale đã
hoàn thành một điều tra cho thấy, 24% người lao động cáu
giận kinh niên tại nơi làm việc. Với thực tế mà các công sở
ngày nay đang phải đối mặt, sẽ không mấy ngạc nhiên khi các
công ty quyết tâm tìm cách xây dựng môi trường làm việc lành
mạnh và hiệu quả hơn.
Xét từ góc độ của một chủ lao động, kết quả cũng không hứa
hẹn hơn. Trong cuốn Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công
việc, Daniel Goleman tiết lộ kết quả của một cuộc điều tra về
các chủ lao động người Mỹ, cho thấy họ phải đấu tranh để tìm
được nhân viên phù hợp. 40% người lao động gặp rắc rối trong
quá trình làm việc với đồng nghiệp, gần 20% có thói quen và
kỷ luật lao động chỉ phù hợp cho những công việc ở mức khởi
điểm. Các chủ lao động ngày càng than phiền về tình trạng
nhân viên được tuyển dụng thiếu các kỹ năng con người. Việc
góp ý cho những lao động trẻ vẫn là một vấn đề vì nhiều người
xem những ý kiến đóng góp như thể một cuộc tập kích vào cá
nhân họ và họ rất tức giận. Vấn đề này không giới hạn ở
những nhân viên mới và nhân viên trẻ. Vào những năm 19601970, để thành công, bạn phải học trường tốt và có điểm số
tốt. Kết quả là nhiều nhân viên quản lý vươn lên tới những vị
trí cao mà không phát triển trí tuệ xúc cảm tốt và đạt được sự
nghiệp đỉnh cao hoặc thậm chí bền vững.
Cảm xúc tại nơi làm việc
Từ năm 1935, Edgar Doll - nhà tâm lý học người Australia đã lý giải lý thuyết của ông về việc xúc cảm tạo động lực và
đưa chúng ta tới thành công. Vì thế, xúc cảm là một phần quan
trọng trong công việc cũng như trong cuộc sống ngoài công
việc. Sự hiểu biết về xúc cảm lúc đó không đủ tiến bộ để thế
giới có thể sẵn sàng lắng nghe những tuyên bố của ông. Phải
mất hàng thập kỷ, những ý kiến của Doll mới được chấp nhận
rộng rãi.
Cách đây ít năm, người ta trông đợi rằng xúc cảm không có
chỗ ở nơi làm việc. Một trong những lý do được đưa ra cho
việc loại phụ nữ khỏi lực lượng lao động là vì họ quá giàu xúc
cảm, và điều đó sẽ không cho họ khả năng thực hiện tốt chức
năng của mình tại nơi làm việc. Ngày nay quan điểm đó có vẻ
đã cũ kỹ, nhưng đó chỉ là vì ngày nay có quá nhiều phụ nữ
tham gia đảm nhiệm những công việc quan trọng. Ý kiến cho
rằng xúc cảm không có chỗ tại nơi làm việc nghe có vẻ lỗi thời
như ý kiến cho rằng hút thuốc lá không liên quan gì tới bệnh
ung thư. Tuy nhiên, nhiều công sở vẫn không thoải mái với ý
kiến cho rằng, xúc cảm là một phần của mỗi chúng ta và ảnh
hưởng tới mọi thứ chúng ta làm. Họ dường như vẫn duy trì
quan niệm rằng có thể để xúc cảm nằm ngoài công việc.
Thành công trong kinh doanh cơ bản là do khả năng thiết lập
các mối quan hệ có hiệu quả với những người khác. Những
người khác này bao gồm đồng nghiệp, quản lý, nhân viên và
khách hàng của chúng ta. Những công ty có khả năng tạo ra
mối quan hệ tốt nhất, cả trong nội bộ nhân viên và đối ngoại
với các khách hàng và nhà cung cấp, là những công ty thành
công nhất.
Tôi không chắc liệu Herb Kelleher và những nhà sáng lập
hãng hàng không Southwest Airlines đã bao giờ nghe nói đến
Edgar Doll hay chưa khi họ nỗ lực vượt qua trở ngại để sáng
lập hãng hàng không đầu tiên tại Texas vào năm 1971. Tuy
nhiên, điều họ biết là cần phải làm gì để tạo động lực cho mọi
người tại nơi làm việc. Ngay từ đầu, họ tin rằng người ta sẽ
cho đi tương xứng với những gì họ nhận được. Nếu bạn thật sự
chăm lo cho nhân viên của mình, đặt họ lên hàng đầu thì họ sẽ
trả lại cho bạn bằng lòng trung thành và nỗ lực đáng kinh
ngạc. Kết quả cuối cùng là một tổ chức rất thành công.
Nghiên cứu tình huống: Southwest Airlines
Một điển hình về công ty đã làm được việc rất
tuyệt vời là, gõ vào cánh cửa trí tuệ xúc cảm
để mở ra một môi trường làm việc năng động,
dễ chịu và như một gia đình: hãng hàng không
Southwest Airlines. Tổ chức này đã được
nghiên cứu rộng rãi làm ví dụ về việc làm thế
nào để tạo ra văn hóa làm việc lành mạnh. Lý
do khiến Southwest Airlines nhận được sự chú
ý như vậy là vì, đó không chỉ là nơi làm việc
tuyệt vời mà còn là một tổ chức rất thành
công, là chủ lao động rất có trách nhiệm về
mặt xã hội, thật sự chăm lo cho nhân viên của
mình.
Tuy nhiên, thành công của hãng hàng không
này lại thu hút rất nhiều sự chú ý của giới kinh
doanh. Được thành lập vào năm 1971 với mục
đích vận tải tuyến ngắn đặt trụ sở bên ngoài
Love Field ở Dallas, câu chuyện kinh doanh
thành công của hãng đã thật sự gây chú ý. Từ
năm 1973, năm nào hãng cũng làm ăn có lãi
trong khi hầu hết những hãng hàng không khác
đều không thể liên tục có lãi trong hơn hai
năm. Ngay cả sau vụ tấn công khủng bố ngày
11 tháng 9 năm 2001, khi các hãng hàng
không khác phải chịu nhiều thiệt hại,
Southwest vẫn mở rộng thị phần. Trong khi
các hãng hàng không khác sa thải hàng nghìn
nhân viên, Southwest, vẫn làm được điều họ
vẫn thường làm, duy trì được toàn bộ số nhân
viên. Điều này được giữ vững theo truyền
thống của hãng là chăm lo cho con người.
Giới báo chí kinh doanh đã chú ý và thường
xuyên bình luận về thành công của Southwest.
Tạp chí Fortune gọi đây là “hãng hàng không
thành công nhất trong lịch sử.”[1]
Tuy thành công cá biệt của hãng hàng không
này nhờ vào nhiều phương pháp đổi mới
nhưng cuốn sách này sẽ tập trung vào khía
cạnh con người. Southwest có tốc độ thay thế
nhân công thấp hơn các đối thủ cạnh tranh
khác và liên tục ghi điểm cao hơn trong các
cuộc điều tra sự thỏa mãn của nhân viên. Hãng
được nằm trong danh sách ”100 công ty có
môi trường làm việc tốt nhất tại Mỹ” của tạp
chí Fortune trong ba năm liền. Rất nhiều công
ty đã cố cạnh tranh với chiến lược kinh doanh
của Southwest. Tuy nhiên, cuối cùng, chính
những người làm việc cho một tổ chức mới là
yếu tố khiến tổ chức đó hoạt động. Thành công
của bất kỳ tổ chức nào đều phụ thuộc vào các
mối quan hệ được phát triển giữa ban quản trị,
nhân viên, khách hàng và nhà cung cấp. Cạnh
tranh về thủ thuật kinh doanh là một nhiệm vụ
tương đối đơn giản so với việc xây dựng một
nền văn hóa, từ đó tạo ra một gia đình trong đó
thành viên là những nhân viên trung thành, tận
tụy, chăm lo cho công việc, quan tâm lẫn nhau
và quan tâm tới cả những khách hàng họ phục
vụ.
Sau những vụ sa thải hàng loạt diễn ra tại các
hãng hàng không khác sau ngày 11 tháng 9
năm 2001, một nhân viên lâu năm của hãng
hàng không Southwest nhận xét rằng ông
không ngạc nhiên khi hãng này không để bất
kỳ một ai ra đi. Ông nói với phóng viên rằng
đó là một phần của văn hóa công ty: họ sẽ làm
bất kỳ điều gì phải làm để chăm sóc người của
họ. Một văn hóa như vậy có được không phải
là tình cờ, mà phải bằng cách không ngừng áp
dụng các nguyên tắc và hành động theo thời
gian để thể hiện cho nhân viên thấy, họ được
quan tâm và cho phép họ sử dụng và phát triển
tiềm năng của mình.
...
C
húng ta hẳn đã có lần đặt câu hỏi, tại sao có những
người thành công khá dễ dàng còn một số khác lại
phải vật lộn cả đời mà vẫn không có được thành công
như vậy, dù đã loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, may mắn hay
nền tảng khác.
Trí thông minh thực dụng sẽ giúp các bạn trả lời một phần
nào đó câu hỏi trên. Cuốn sách sẽ khai mở cho chúng ta về trí
tuệ cảm xúc (EI) của con người, tìm hiểu thế giới nội tâm và
thế giới bên ngoài, từ đó giải quyết các vấn đề liên quan đến
khả năng thích ứng, kiểm soát căng thẳng, và chúng ta cũng
nhận thức được vai trò của EI trong cuộc sống của mỗi người.
Từ thế kỷ XX, các nhà tâm lý học đã bắt tay vào việc nghiên
cứu nghiêm túc các dạng trí tuệ khác nhau, và cho rằng ngoài
IQ còn có những lĩnh vực khác cần xem xét, đó chính là khởi
nguồn cho trí tuệ cảm xúc ngày nay. Đúng như trong cuốn
sách này khẳng định, mục đích của EI là giải quyết các vấn đề
“làm thế nào” của cuộc sống chứ không giải quyết câu hỏi “vì
sao”. Và điều này đang dần trở nên thiết thực hơn, quan trọng
hơn với tất cả chúng ta, bởi mỗi chúng ta đều đang tìm cách
làm thế nào để có một cuộc sống hạnh phúc hơn, một công
việc thành công hơn và một cuộc đời đáng sống hơn.
Cuốn sách đưa chúng ta tìm về cội nguồn của vấn đề, đó là
phải có mục đích rõ ràng để thuyết phục bản thân làm điều này
hay điều khác. Bởi từ xa xưa, các triết gia đã cho rằng, hạnh
phúc chính là việc theo đuổi một mục tiêu nào đó. Ngày nay,
việc lựa chọn mục đích tùy thuộc vào mỗi cá nhân, mỗi người
tự tìm cho mình một mục tiêu nhất định để đạt tới.
Ở Việt Nam thời gian gần đây rộ lên việc giáo dục kỹ năng
mềm cho các độ tuổi, cả trong và ngoài nhà trường. Trước đây,
việc giáo dục còn nặng về kiến thức, các cá nhân không được
trang bị về những kỹ năng như giải quyết tình huống hay giải
tỏa căng thẳng… Giờ đây, khi được học và hiểu về những kỹ
năng này, con người linh hoạt hơn trong các tình huống cuộc
sống, cũng dễ dàng đương đầu được với những áp lực từ cả xã
hội và công việc vốn đang ngày càng đè nặng lên mỗi cá nhân.
Để tìm ra được mục đích của mình cũng như trả lời cho câu
hỏi làm thế nào để có được cuộc sống thú vị hơn, công việc
thành công hơn, trang bị kiến thức về trí tuệ cảm xúc và thấu
hiểu về tâm lý con người trong xã hội hiện đại là hoàn toàn
cần thiết.
Đặc biệt cuốn sách có rất nhiều câu chuyện thực tế để người
đọc có thể rút ra những bài học bổ ích cho việc tăng cường trí
tuệ cảm xúc bản thân cũng như ứng dụng trong cuộc sống.
Đây là một cẩm nang chi tiết, giúp bạn đạt được những mục
tiêu thiết thực cho cuộc đời mình.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 3 năm 2011
NGUYỄN HỒNG CHƯƠNG
Chủ tịch HĐQT
Công ty Cổ phần Đào tạo Nghề Đông Dương
GIỚI THIỆU
C
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
ông cụ mạnh nhất là công cụ con người sẽ sử dụng.
Những kỹ thuật trong cuốn sách này thật đơn giản, dễ
hiểu và dễ sử dụng, không đòi hỏi nhiều thời gian. Tôi
hiểu và tôn trọng thực tế rằng, trong cuộc đời, bạn có nhiều
mối quan tâm khác nhau mà thời gian thì hữu hạn. Dù có thể
bạn rất quan tâm tới trí tuệ xúc cảm thì điều đó vẫn phải phù
hợp với thế giới của bạn, chứ không phải ngược lại. Cuốn sách
này cung cấp cho bạn những kỹ thuật đơn giản, hiệu quả và
chỉ cần năm phút mỗi ngày.
Thành công không phải là một bước đột phá. Nó là sự tích lũy
những thay đổi nhỏ có được nhờ sự kiên trì, kỷ luật tự giác và
học cách tận dụng tối đa trí tuệ xúc cảm. Với câu hỏi: Nâng
cao trí tuệ xúc cảm có khó không, câu trả lời là có và không.
Không, vì nó không khó về mặt kỹ thuật. Nó không đòi hỏi
kiến thức đặc biệt, chỉ số IQ cao hay cần nhiều bí quyết kỹ
thuật. Nhưng nó không dễ thực hiện. Nó đòi hỏi ý thức kỷ luật
tự giác để duy trì hành động trong một khoảng thời gian dài,
ngay cả khi không có kết quả rõ ràng ngay lập tức. Có thể
trong phần lớn cuộc đời, tiềm thức chúng ta đã hoạt động theo
những cơ chế mặc định tự hủy hoại bản thân. Thời xa xưa,
cùng với bản năng sinh tồn, nhiều cơ chế hành vi ra đời do sự
cần thiết, nhằm giúp loài người thoát khỏi những tình huống
khó khăn. Nhiều người trong chúng ta dựa vào nỗi giận dữ và
các xúc cảm mạnh khác để đối phó và thoát khỏi những gia
đình bất ổn, những tình huống không may khác trong thời kỳ
được nuôi dưỡng. Tuy nhiên, khi thoát ra khỏi hoàn cảnh đó,
sự tức giận không còn giúp chúng ta nhiều nữa mà thậm chí
còn chống lại chúng ta. Lúc đó, điều quan trọng là chúng ta
phải nhận ra rằng suy nghĩ và hành vi trước đây từng cần thiết
nay đã trở nên lỗi thời, có hại và chúng ta phải nỗ lực phát
triển cách suy nghĩ mới về bản thân, về những người xung
quanh và về môi trường của chúng ta. Những gì va vấp phải
trong những năm tháng trưởng thành sẽ có ảnh hưởng đối với
chúng ta cho đến tận cuối đời – tại nơi làm việc, trong gia đình
và trong tất cả những quan hệ tương tác của chúng ta với thế
giới.
Mặc dù một vài điều chúng ta học được là tốt và sẽ rất có ích
thì cũng có một số điều có thể phá hoại tương lai của chúng ta.
Tin tốt là chúng ta có thể thay đổi những gì đã học trong quá
khứ và học được những cách mới và tốt hơn để tương tác với
thế giới xung quanh. Không giống chỉ số thông minh (IQ) –
gần như được ấn định cả đời khi chúng ta bước vào tuổi
trưởng thành, chúng ta có thể thay đổi được trí tuệ xúc cảm
(EI).
Bước đầu tiên là xác định đâu là sở trường của bạn và điều gì
có ích cho bản thân. Trong cuốn sách Go Put Your Strengths to
Work (Tạm dịch: Kích hoạt sức mạnh của bạn), tác giả Marcus
Buckingham nói rằng, chúng ta nên tập trung vào việc tạo ra
một môi trường làm việc sử dụng các thế mạnh nhiều hơn là
quan tâm tới những điểm yếu.
Lý thuyết của ông cho rằng, sẽ có lợi hơn khi chúng ta tập
trung và cải thiện những lĩnh vực mà chúng ta vốn đã giỏi và
có tài năng. Quan điểm này giống với tâm lý học tích cực,
khẳng định rằng khi giúp đỡ người khác, chúng ta sẽ đạt được
kết quả tốt hơn nhiều nếu tập trung vào những thế mạnh thay
vì những điểm yếu của họ. Đây là một sự thay đổi có ý nghĩa
so với quá khứ, khi đó tâm lý học tập trung chủ yếu vào các
điểm yếu và làm thế nào để cải thiện chúng. Nói chung, tôi
nghĩ rằng tập trung vào điểm mạnh là cách làm đúng đắn. Bất
kỳ khi nào đưa ra ý kiến đánh giá EI cho ai đó hoặc khi hướng
dẫn, đầu tiên tôi xác định và nói về các thế mạnh của người đó
trước khi nhìn nhận những thách thức. Tuy nhiên, trong khi
tập trung vào các điểm mạnh, vẫn có một số lĩnh vực chúng ta
không được phép bỏ qua, ngay cả nếu đó không phải là sở
trường của chúng ta. Các lĩnh vực quan trọng này sẽ hủy hoại
chúng ta và phủ nhận những thế mạnh của bản thân nếu chúng
không được quản lý tốt.
Câu hỏi, vì sao một số người thì thành công, trong khi những
người khác phải vật lộn cả đời và đạt được rất ít thành công,
vẫn luôn hấp dẫn loài người. Trong phần lớn thế kỷ XX, chúng
ta vẫn để tin rằng, đó là vì trí thông minh nhận thức, hay IQ,
quyết định mức độ thành đạt của chúng ta. Tuy nhiên, thực tế
phổ biến và năng lực quan sát giản đơn của chúng ta cho
chúng ta biết rằng điều này không đúng, rằng hẳn phải có
nhiều yếu tố dẫn tới thành công hơn việc chúng ta đạt kết quả
thế nào trong các bài kiểm tra ở trường.
Trong cuốn Successful Intelligence (Tạm dịch: Trí tuệ thành
đạt), Robert Sternberg xem xét trường hợp của hai sinh viên
tốt nghiệp trường Yale và cách họ thể hiện trong thế giới thực.
Penn là một thành viên sáng tạo và xuất sắc của lớp, có thể
đưa ra những ý tưởng của riêng mình. Về lý thuyết, anh chắc
chắn là sinh viên tốt nghiệp thủ khoa trường Yale. Chỉ có duy
nhất một vấn đề, Penn khá kiêu ngạo và gần như hoàn toàn
thiếu những kỹ năng thực tế.
Mặc dù Penn được tất cả các công ty hàng đầu phỏng vấn, sự
kiêu ngạo khiến không công ty nào tiếp nhận anh cả. Lời đề
nghị duy nhất đến từ một công ty hạng hai và anh cũng chỉ có
thể trụ ở đó được ba năm.
Còn người kia, Mart, bạn cùng phòng của Penn, không giỏi về
học lực nhưng lại có trí tuệ xã hội tuyệt vời. Mart nhận được
bảy lời đề nghị sau tám cuộc phỏng vấn. Dù không xuất sắc
nhưng anh luôn là người đáng tin cậy và các kỹ năng xã hội
giúp sự nghiệp của anh ngày càng phát triển.
Hãy nghĩ lại thời kỳ học phổ thông của bạn. Bạn có nhớ những
bạn học sáng giá có điểm số tuyệt vời và mọi người đều trông
đợi họ sẽ làm được những điều vĩ đại cho thế giới? Họ có làm
tốt như mọi người trông đợi? Thế còn những học sinh bị mọi
người cười nhạo vì bỏ học đi bán xe cũ? Trong các buổi họp
lớp, bạn có thấy những học sinh xuất sắc trước kia thì lái taxi,
còn những học sinh bỏ học lại trở thành triệu phú?
Tất cả chúng ta đều biết những câu chuyện tương tự như vậy,
biết những người từng rất giỏi khi nhìn vào điểm số họ đạt
được ở trường, nhưng lại phải vật lộn để thích nghi với xã hội.
Ted Kaczynski[1] – được mệnh danh là “Unabomber” (kẻ
chuyên đánh bom máy bay và trường đại học) và tên Ted - Ted
Bundy khét tiếng[2] - chỉ là hai trong nhiều ví dụ nổi tiếng.
Mặt khác, chúng ta biết ai đó có thể sẽ không đạt được kết quả
cao trong bài kiểm tra IQ nhưng vẫn sống rất tốt. Do đó, quan
niệm rằng phải có những yếu tố khác – ngoài IQ – tham gia
vào việc xác định thành công của một người, không phải là
điều gì ngạc nhiên đối với phần lớn chúng ta. Trong đời mình,
chúng ta vẫn luôn thấy điều này.
Ví dụ, trong cuốn sách Working with Emotional Intelligence
(Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công việc)[3], Daniel
Goleman đã khảo sát trường hợp của một công ty tư vấn để
tìm ra những hậu quả do thiếu khả năng kiểm soát sự tùy
hứng. Các nghiên cứu về trường hợp thất bại trong công việc được tiến hành nhờ hồ sơ của công ty tư vấn, đã đánh giá từng
nhân viên trong đợt kiểm tra trên 4.265 người, từ lãnh đạo
công ty cho tới những người lao động chân tay.
Trong những phát hiện của Goleman có trường hợp một nhà
quản lý doanh nghiệp. Người này khá hung hăng với tất cả
những người ông ta tiếp xúc. Cuối cùng, ông ta bị sa thải vì
một nữ nhân viên tố cáo tội quấy rối tình dục. Một trường hợp
khác, một nhà quản lý hướng ngoại khác thường, nổi tiếng vì
phong cách thoải mái và thích tụ tập đã vượt quá ranh giới bảo
mật và rốt cuộc bị sa thải vì để lộ thông tin mật của công ty.
Tương tự, cả CEO và CFO được tuyển chọn kỹ lưỡng của ông
ta đều bị sa thải do quản lý kém nguồn ngân sách của công ty.
Cả hai đều thiếu đạo đức và ít quan tâm tới tác động do hành
động của mình gây ra.
Tất cả những người này đều thiếu khả năng kiểm soát cơn bốc
đồng của mình. Họ có rất ít, hoặc thậm chí không có, khả năng
trì hoãn sự thỏa mãn tức thời. Nếu biết tự kiềm chế, con người
có thể suy nghĩ kỹ lưỡng về hậu quả có thể xảy ra với những
gì họ chuẩn bị làm và chịu trách nhiệm về lời nói, việc làm của
mình.
Hãng tư vấn đó đã nghiên cứu về sự tự kiềm chế trong công
việc và khuyên rằng, “khi lựa chọn nhân lực cho công việc
thuộc lĩnh vực công nghiệp – ở tất cả các cấp độ – sẽ là khôn
ngoan khi từ chối những ứng viên có mức tự kiềm chế thấp
hoặc rất thấp”, vì “khả năng họ gây ra rắc rối là vô cùng lớn”.
(Tuy vậy, công ty này cũng lưu ý rằng con người có thể được
giúp đỡ để xử lý tốt hơn tính bốc đồng của họ - kiểm soát cơn
bốc đồng kém không nhất thiết là bản án tử hình cho sự nghiệp
của người đó).
Nhiều công việc, cuộc hôn nhân, mối quan hệ và tình bạn khác
lại bị phá hủy bởi ai đó, trong một khoảnh khắc tức giận, nói
ra những lời do sự thúc bách của tình thế mà sau đó họ phải
dành cả đời để nuối tiếc. Do đó, điều quan trọng là phải xác
định những lĩnh vực có khả năng gây hại cho chúng ta và ít
nhất phải trung hòa chúng để chúng không trở thành những vật
cản đường tới thành công.
Không may là bộ não của chúng ta không được lập trình như
máy tính; chúng ta không thể đơn giản đăng nhập và thay đổi
cài đặt trong vòng vài giây. Tuy nhiên, chúng ta có thể phát
triển những trạng thái mặc định mới bằng cách liên tục rèn
luyện các cách giải quyết vấn đề tốt hơn. Qua thời gian, những
kỹ thuật này sẽ trở nên dễ dàng hơn và cảm giác là một phần
thực con người ta vậy. Khi đó, những suy nghĩ và hành vi
trước đây sẽ bắt đầu có vẻ không tự nhiên và không còn quen
thuộc nữa.
Lúc này chúng ta sẽ biết rằng, một thay đổi thật sự và lâu dài
đang hình thành trong cuộc sống của chúng ta và thay đổi
chúng ta theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Cuối cùng, những mẫu
thức mới này sẽ trở thành trạng thái mặc định mới của chúng
ta, tự nhiên và tự động đến với chúng ta.
[1] Theodore John “Ted” Kaczynski (1942): Một nhà toán học
thông minh và là Giáo sư khoa toán tại U. C. Berkeley, nhưng
lại là kẻ thù ghét xã hội. Từ năm 1978, y bắt đầu gửi bom,
đánh bom, khiến ba người thiệt mạng và 23 người bị thương.
Cơ quan FBI đã truy lùng y mãi đến năm 1996 mới bắt được.
Đó là vụ “Unabomber”, ký hiệu của FBI dành cho tên khủng
bố chuyên đánh bom các trường đại học và hãng hàng không.
[2] Theodore Robert “Ted” Bundy (1946-1989): Đẹp trai,
thông minh, học hành xuất sắc và có một tương lai chính trị
đầy hứa hẹn, nhưng lại là một trong những kẻ giết người hàng
loạt ghê rợn nhất lịch sử nước Mỹ từ 1973-1978. Hắn thú nhận
đã giết 30 người, nhưng con số thực tế còn lớn hơn rất nhiều.
[3] Đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm
2007.
Phần I
TRÍ TUỆ XÚC CẢM
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
1
EI LÀ GÌ?
“Phát kiến vĩ đại nhất của thế hệ tôi là loài người có thể thay
đổi cuộc sống của mình bằng cách thay đổi cách nghĩ.”
– WILLIAM JAMES, NHÀ TÂM LÝ HỌC VÀ TRIẾT
HỌC –
Ý
kiến cho rằng, xúc cảm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc
sống, không phải là mới. Nó tồn tại từ khi loài người
có mặt trên trái đất. Những nhà triết học Hy Lạp cổ
đại đã nói về ảnh hưởng của xúc cảm tới bản thân họ và những
người xung quanh họ. Trong một vài thập kỷ qua, chúng ta đã
đạt được những bước đột phá quan trọng trong nghiên cứu xúc
cảm và tác động của chúng đối với đời sống.
Lịch sử khái niệm
Trong những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu và
các nhà tâm lý học đã bắt đầu nghiên cứu một cách nghiêm túc
các dạng trí tuệ khác nhau. Trước thời điểm bài kiểm tra IQ
được thiết lập và sử dụng tại các trường học, David Wechsler,
người phát triển phiên bản IQ mới nhất vào năm 1940, đã cảm
thấy rằng có những lĩnh vực trí tuệ khác cần phải được đo
lường. Ông suy luận rằng một trong những lĩnh vực chúng ta
cần xem xét chính là lĩnh vực mà ngày nay gọi là trí tuệ xúc
cảm. Năm 1955, Albert Ellis, người sáng lập liệu pháp lý tríxúc cảm, suy đoán rằng con người có thể học cách giải quyết
xúc cảm bằng cách sử dụng giải thích. Năm 1980, Tiến sỹ
Reuven BarOn, một học giả và nhà tâm lý học người Israel,
bắt đầu nghiên cứu ảnh hưởng của xúc cảm tới hoạt động chức
năng của con người.
Sử dụng công trình của bản thân và những nhà nghiên cứu
trước đó, BarOn bắt đầu phát triển bài kiểm tra EQ, cho trí tuệ
xúc cảm. Đây là đánh giá trí tuệ xúc cảm đầu tiên có giá trị
khoa học. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ đã chứng nhận bài
kiểm tra này, và nó được biết đến với tên gọi BarOn EQ-i®,
hay Bản kê chỉ số xúc cảm.
Thuật ngữ trí tuệ xúc cảm được cho là do John Mayer, Đại học
New Hampshire và Peter Salovey, Đại học Yale, nghĩ ra. Năm
1990, hai giáo sư tâm lý học, cùng với đồng nghiệp David
Caruso, đã phát triển một bài kiểm tra trí tuệ xúc cảm khác.
Bài kiểm tra của họ, có tên Kiểm tra Trí tuệ Xúc cảm MayerSalovey-Caruso (MSCEIT), là bài kiểm tra trí tuệ xúc cảm dựa
trên năng lực. Vấn đề xoay quanh ai thật sự là người phát hiện
ra trí tuệ xúc cảm hay ai là người đầu tiên đặt ra thuật ngữ này
là điểm vẫn còn phải tranh cãi. Cơ sở tri thức của chúng ta đã
tiến bộ tới mức các nhà nghiên cứu và các nhà khoa học xã hội
đã tạo ra những đột phá mới trong các lĩnh vực chức năng hoạt
động của con người. Với hiểu biết mới, chúng ta đã có thể đo
và kiểm tra ảnh hưởng của xúc cảm trong đời sống một cách
chính xác và có ý nghĩa.
Hãy nghĩ về điều này cũng giống như các đột phá công nghệ
đối với xe hơi và máy bay. Mặc dù anh em nhà Wright đã lưu
danh vào lịch sử là những người thực hiện chuyến bay đầu
tiên, thì vẫn có những người khác cũng cố gắng thực hiện điều
đó và cũng đã đạt đến rất gần chuyến bay đó. Công nghệ đã
tiến bộ tới mức có thể thực hiện bay bằng máy bay và lúc đó
cũng đã có những nhà phát minh ở tất cả những nước công
nghiệp như Anh, Pháp và Đức. Họ cũng đang tiến rất gần tới
việc đột phá đó. Nếu anh em nhà Wright không thực hiện
chuyến bay lịch sử với chiếc Kitty Hawk thì có thể là một ai
khác cũng sẽ bay ngay sau thời điểm đó. Đó là vấn đề thời
điểm của ai đến trước. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng với
trí tuệ xúc cảm.
Năm 1995, Daniel Goleman xuất bản cuốn Emotional
Intelligence (Tạm dịch: Trí tuệ xúc cảm)[1]. Cuốn sách tổng
kết lại những công trình đã được thực hiện trong lĩnh vực này
tới thời điểm đó. Nó trở thành cuốn sách bán chạy, và
Goleman xuất hiện với tư cách khách mời trong chương trình
Oprah Winfrey Show. Nếu có một thời điểm định rõ cho trí tuệ
xúc cảm thì chính là đây. Nhận thức của công chúng về khái
niệm này, cho đến trước thời điểm này vẫn còn rất ít, đến lúc
này đã phát triển nhảy vọt. Mọi người bắt đầu nói về trí tuệ
xúc cảm khi các bài báo xuất hiện trên các tạp chí lớn như
Time và Newsweek.
Năm 1998, Goleman tiếp nối thành công của mình bằng cuốn
Emotional Intelligence in the Workplace (Tạm dịch: Trí tuệ
xúc cảm tại công sở), trong đó ông nghiên cứu các doanh
nghiệp được lợi như thế nào nhờ việc thực hiện các khái niệm
trí tuệ xúc cảm tại nơi làm việc. Giống cuốn sách đầu tiên,
thành công của cuốn này lại đưa tác giả xuất hiện trong
chương trình Oprah. Trong một vài năm qua, các xuất bản
phẩm về kinh tế có uy tín như Harvard Business Review và
Fast Company, đã nhanh chóng xóa bỏ bất kỳ quan niệm
không đúng nào cho rằng, trí tuệ xúc cảm là một ý tưởng nào
đó “mờ nhạt, cảm giác là tốt” và không có chỗ đứng trong thế
giới thực.
Những quan niệm sai lầm
Kể từ khi thuật ngữ trí tuệ xúc cảm ra đời, đã có một số quan
niệm không đúng về việc hiểu ý nghĩa của nó. Không hề đào
sâu tìm hiểu thuật ngữ này thật sự nghĩa là gì, mọi người đã
vội vã đi đến kết luận chỉ với căn cứ vào nghĩa của từ xúc
cảm. Trong cuốn sách Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công
việc, Daniel Goleman đã cố gắng định hướng lại cho đúng và
làm rõ một số quan niệm sai lầm xung quanh thuật ngữ trí tuệ
xúc cảm.
Tốt
Không chỉ đơn giản là tốt, trí tuệ xúc cảm có thực, cởi mở và
thành thật khi nói về các cảm giác của mình. Điều này có thể
cần tới sự dũng cảm, vì lảng tránh vấn đề thường dễ hơn việc
đối mặt trực tiếp với nó. Đúng hơn, chúng ta cần phải thực tế
trong các mối tương tác với những người khác. Trong khi
chúng ta nên nhạy cảm trước xúc cảm của những người khác,
việc bỏ qua, xem nhẹ hành vi tiêu cực hoặc phá hoại sẽ không
giúp được họ. Nếu chúng ta thật sự quan tâm tới ai đó, chúng
ta phải thẳng thắn và trung thực cho dù nó có thể khiến chúng
ta không thoải mái và không được trân trọng vào lúc đó.
Những người bạn thật sự cuối cùng sẽ trân trọng vì chúng ta
đã đủ can đảm và quan tâm để có thể trung thực với họ.
Bộc lộ hoàn toàn
Như Goleman đã chỉ ra: “Trí tuệ xúc cảm không có nghĩa là để
cho cảm xúc tự do phát triển – 'để nó bộc lộ hết ra ngoài', mà
thay vào đó, nó có nghĩa là quản lý cảm xúc để chúng được
thể hiện một cách phù hợp và hiệu quả, khiến mọi người có
thể làm việc cùng nhau một cách trôi chảy, cùng hướng tới
những mục đích chung.”[2]
Cũng có những thời gian và địa điểm mà ta phải thể hiện xúc
cảm mạnh mẽ với những người khác. Ví dụ, buổi họp nhân
viên không thích hợp để trút cơn giận dữ lên một đồng nghiệp.
Sau đó, khi chúng ta đã bình tĩnh, suy nghĩ kỹ càng và trong
không gian riêng tư với người đồng nghiệp đó, thì đó mới là
thời gian và không gian phù hợp.
Phụ nữ có nhiều trí tuệ cảm xúc hơn
Một khía cạnh khác của EI, thường bị hiểu sai, là sự khác biệt
về năng lực tự nhiên của hai giới trong việc biểu đạt trí tuệ xúc
cảm. Trong xã hội chúng ta, phụ nữ vẫn luôn có quyền tự do
và được phép thể hiện cảm xúc hơn nam giới rất nhiều. Điều
này đang dần thay đổi, văn hóa phương Tây đã bắt đầu thức
tỉnh trước những hậu quả tiêu cực của việc không cho phép
nam giới thoải mái bộc lộ xúc cảm của mình. Vì nói chung,
phụ nữ vẫn luôn cởi mở và hay biểu đạt cảm xúc của mình hơn
nên một số cho rằng phụ nữ sẽ giỏi hơn nam giới trong tất cả
các lĩnh vực của EI. Daniel Goleman đã cố gắng làm rõ những
quan niệm sai lầm liên quan tới sự khác biệt về giới khi ông
viết rằng “phụ nữ không 'trí tuệ hơn' nam giới khi nói về trí
tuệ xúc cảm, và nam giới cũng không siêu đẳng hơn phụ nữ.
Mỗi người trong chúng ta đều có một hồ sơ cá nhân riêng, với
những điểm mạnh và điểm yếu về những năng lực này. Một số
trong chúng ta có thể rất thấu cảm nhưng lại thiếu khả năng
giải quyết nỗi phiền muộn của chính mình; những người khác
có thể nhận biết được những thay đổi rất nhỏ trong tâm trạng
của người khác nhưng lại rất lạc lõng về mặt xã hội.”[3]
Khi tổng hợp các hồ sơ nam/nữ, chúng tôi thấy rằng nhìn
chung phụ nữ nhận biết xúc cảm của mình tốt hơn và giỏi thiết
lập các mối quan hệ với người khác hơn, trong khi nam giới dễ
thích nghi và xử lý căng thẳng tốt hơn. Tuy nhiên, điều quan
trọng cần nhớ là, phát hiện này không giải thích cho các biến
đổi ở mỗi cá nhân. Cũng có những người đàn ông biết rất rõ
những cảm xúc của mình và có thể tạo những mối quan hệ bền
chặt, cũng như có những phụ nữ có thể thích nghi dễ dàng và
xử lý căng thẳng tốt.
Trí tuệ xúc cảm không được quyết định từ lúc con người
sinh ra
Khía cạnh thú vị và hứa hẹn nhất của trí tuệ xúc cảm là chúng
ta có thể thay đổi nó. Nói cách khác, không giống IQ, chúng ta
không bị bó buộc vào những gì chúng ta có lúc được sinh ra.
Tin tuyệt vời về EQ là, nó không phải là chỉ số cố định hay chỉ
phát triển trong một giai đoạn nào đó của cuộc đời. Người ta
đã chứng minh rằng, các trải nghiệm cuộc sống có thể được sử
dụng để nâng cao EQ, rằng chúng ta có thể tiếp tục phát triển
khả năng của mình để học và điều chỉnh kể cả khi đã có tuổi.
Lĩnh vực EQ thật sự đem lại phần thưởng khi chúng ta trải qua
trường đời một cách thành công.
[1] Đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm
2007.
[2] Daniel Goleman, Working with Emotional Intelligence
(New York: Bantam Books, 1998), trang 6.
[3] Sách đã dẫn, trang 7.
2
MỐI LIÊN HỆ VỚI LĨNH VỰC
KINH DOANH
“Nếu bạn đang làm việc cho một công ty mà không nhiệt tình,
không đam mê, không sáng tạo, không thông minh, không tò
mò, chỉ đơn giản làm việc cho vui thì bạn đang gặp rắc rối
nghiêm trọng rồi.”
– TOM PETER, CHUYÊN GIA QUẢN LÝ –
C
ho đến nay, những bước tiến của trí tuệ xúc cảm chủ
yếu được thúc đẩy bởi lĩnh vực kinh doanh và công
nghiệp. Các nhà lãnh đạo trong hai lĩnh vực này đã
nhanh chóng nhận ra lợi ích của việc có được những nhà quản
lý và nhân viên có cấp độ trí tuệ xúc cảm cao. Nói một cách
đơn giản, có một mối liên hệ trực tiếp giữa cấp độ EI với năng
suất làm việc của người lao động. Biết cách kết hợp hiệu quả
với những người khác trong cùng tổ chức là một trong những
kỹ năng được đề cao trong bất kỳ tổ chức nào. Khi chủ lao
động được yêu cầu liệt kê những kỹ năng hàng đầu mà họ tìm
kiếm ở người lao động, những kỹ năng con người luôn được
xếp hàng đầu. Những kỹ năng kỹ thuật có thể học được, song
sẽ khó hơn rất nhiều nếu muốn thay đổi kỹ năng ứng xử hoặc
thay đổi kỹ năng quan hệ với người khác của ai đó.
Ngày nay, các doanh nghiệp phải đối mặt với những thách
thức rất lớn. Các nghiên cứu và thống kê cho thấy, nhiều công
ty còn cách rất xa mô hình làm việc lý tưởng mà bậc thầy về
quản lý Tom Peters miêu tả. Theo tờ Psychological Today, có
đến 40% tổng số người lao động bị ảnh hưởng từ stress và một
triệu công nhân phải nghỉ mỗi ngày vì các vấn đề liên quan tới
stress. Chi phí ước tính từ việc thiệt hại năng suất này đối với
nền kinh tế Mỹ là gần 200 tỷ đô-la. Trường Quản lý Yale đã
hoàn thành một điều tra cho thấy, 24% người lao động cáu
giận kinh niên tại nơi làm việc. Với thực tế mà các công sở
ngày nay đang phải đối mặt, sẽ không mấy ngạc nhiên khi các
công ty quyết tâm tìm cách xây dựng môi trường làm việc lành
mạnh và hiệu quả hơn.
Xét từ góc độ của một chủ lao động, kết quả cũng không hứa
hẹn hơn. Trong cuốn Trí tuệ xúc cảm – Ứng dụng trong công
việc, Daniel Goleman tiết lộ kết quả của một cuộc điều tra về
các chủ lao động người Mỹ, cho thấy họ phải đấu tranh để tìm
được nhân viên phù hợp. 40% người lao động gặp rắc rối trong
quá trình làm việc với đồng nghiệp, gần 20% có thói quen và
kỷ luật lao động chỉ phù hợp cho những công việc ở mức khởi
điểm. Các chủ lao động ngày càng than phiền về tình trạng
nhân viên được tuyển dụng thiếu các kỹ năng con người. Việc
góp ý cho những lao động trẻ vẫn là một vấn đề vì nhiều người
xem những ý kiến đóng góp như thể một cuộc tập kích vào cá
nhân họ và họ rất tức giận. Vấn đề này không giới hạn ở
những nhân viên mới và nhân viên trẻ. Vào những năm 19601970, để thành công, bạn phải học trường tốt và có điểm số
tốt. Kết quả là nhiều nhân viên quản lý vươn lên tới những vị
trí cao mà không phát triển trí tuệ xúc cảm tốt và đạt được sự
nghiệp đỉnh cao hoặc thậm chí bền vững.
Cảm xúc tại nơi làm việc
Từ năm 1935, Edgar Doll - nhà tâm lý học người Australia đã lý giải lý thuyết của ông về việc xúc cảm tạo động lực và
đưa chúng ta tới thành công. Vì thế, xúc cảm là một phần quan
trọng trong công việc cũng như trong cuộc sống ngoài công
việc. Sự hiểu biết về xúc cảm lúc đó không đủ tiến bộ để thế
giới có thể sẵn sàng lắng nghe những tuyên bố của ông. Phải
mất hàng thập kỷ, những ý kiến của Doll mới được chấp nhận
rộng rãi.
Cách đây ít năm, người ta trông đợi rằng xúc cảm không có
chỗ ở nơi làm việc. Một trong những lý do được đưa ra cho
việc loại phụ nữ khỏi lực lượng lao động là vì họ quá giàu xúc
cảm, và điều đó sẽ không cho họ khả năng thực hiện tốt chức
năng của mình tại nơi làm việc. Ngày nay quan điểm đó có vẻ
đã cũ kỹ, nhưng đó chỉ là vì ngày nay có quá nhiều phụ nữ
tham gia đảm nhiệm những công việc quan trọng. Ý kiến cho
rằng xúc cảm không có chỗ tại nơi làm việc nghe có vẻ lỗi thời
như ý kiến cho rằng hút thuốc lá không liên quan gì tới bệnh
ung thư. Tuy nhiên, nhiều công sở vẫn không thoải mái với ý
kiến cho rằng, xúc cảm là một phần của mỗi chúng ta và ảnh
hưởng tới mọi thứ chúng ta làm. Họ dường như vẫn duy trì
quan niệm rằng có thể để xúc cảm nằm ngoài công việc.
Thành công trong kinh doanh cơ bản là do khả năng thiết lập
các mối quan hệ có hiệu quả với những người khác. Những
người khác này bao gồm đồng nghiệp, quản lý, nhân viên và
khách hàng của chúng ta. Những công ty có khả năng tạo ra
mối quan hệ tốt nhất, cả trong nội bộ nhân viên và đối ngoại
với các khách hàng và nhà cung cấp, là những công ty thành
công nhất.
Tôi không chắc liệu Herb Kelleher và những nhà sáng lập
hãng hàng không Southwest Airlines đã bao giờ nghe nói đến
Edgar Doll hay chưa khi họ nỗ lực vượt qua trở ngại để sáng
lập hãng hàng không đầu tiên tại Texas vào năm 1971. Tuy
nhiên, điều họ biết là cần phải làm gì để tạo động lực cho mọi
người tại nơi làm việc. Ngay từ đầu, họ tin rằng người ta sẽ
cho đi tương xứng với những gì họ nhận được. Nếu bạn thật sự
chăm lo cho nhân viên của mình, đặt họ lên hàng đầu thì họ sẽ
trả lại cho bạn bằng lòng trung thành và nỗ lực đáng kinh
ngạc. Kết quả cuối cùng là một tổ chức rất thành công.
Nghiên cứu tình huống: Southwest Airlines
Một điển hình về công ty đã làm được việc rất
tuyệt vời là, gõ vào cánh cửa trí tuệ xúc cảm
để mở ra một môi trường làm việc năng động,
dễ chịu và như một gia đình: hãng hàng không
Southwest Airlines. Tổ chức này đã được
nghiên cứu rộng rãi làm ví dụ về việc làm thế
nào để tạo ra văn hóa làm việc lành mạnh. Lý
do khiến Southwest Airlines nhận được sự chú
ý như vậy là vì, đó không chỉ là nơi làm việc
tuyệt vời mà còn là một tổ chức rất thành
công, là chủ lao động rất có trách nhiệm về
mặt xã hội, thật sự chăm lo cho nhân viên của
mình.
Tuy nhiên, thành công của hãng hàng không
này lại thu hút rất nhiều sự chú ý của giới kinh
doanh. Được thành lập vào năm 1971 với mục
đích vận tải tuyến ngắn đặt trụ sở bên ngoài
Love Field ở Dallas, câu chuyện kinh doanh
thành công của hãng đã thật sự gây chú ý. Từ
năm 1973, năm nào hãng cũng làm ăn có lãi
trong khi hầu hết những hãng hàng không khác
đều không thể liên tục có lãi trong hơn hai
năm. Ngay cả sau vụ tấn công khủng bố ngày
11 tháng 9 năm 2001, khi các hãng hàng
không khác phải chịu nhiều thiệt hại,
Southwest vẫn mở rộng thị phần. Trong khi
các hãng hàng không khác sa thải hàng nghìn
nhân viên, Southwest, vẫn làm được điều họ
vẫn thường làm, duy trì được toàn bộ số nhân
viên. Điều này được giữ vững theo truyền
thống của hãng là chăm lo cho con người.
Giới báo chí kinh doanh đã chú ý và thường
xuyên bình luận về thành công của Southwest.
Tạp chí Fortune gọi đây là “hãng hàng không
thành công nhất trong lịch sử.”[1]
Tuy thành công cá biệt của hãng hàng không
này nhờ vào nhiều phương pháp đổi mới
nhưng cuốn sách này sẽ tập trung vào khía
cạnh con người. Southwest có tốc độ thay thế
nhân công thấp hơn các đối thủ cạnh tranh
khác và liên tục ghi điểm cao hơn trong các
cuộc điều tra sự thỏa mãn của nhân viên. Hãng
được nằm trong danh sách ”100 công ty có
môi trường làm việc tốt nhất tại Mỹ” của tạp
chí Fortune trong ba năm liền. Rất nhiều công
ty đã cố cạnh tranh với chiến lược kinh doanh
của Southwest. Tuy nhiên, cuối cùng, chính
những người làm việc cho một tổ chức mới là
yếu tố khiến tổ chức đó hoạt động. Thành công
của bất kỳ tổ chức nào đều phụ thuộc vào các
mối quan hệ được phát triển giữa ban quản trị,
nhân viên, khách hàng và nhà cung cấp. Cạnh
tranh về thủ thuật kinh doanh là một nhiệm vụ
tương đối đơn giản so với việc xây dựng một
nền văn hóa, từ đó tạo ra một gia đình trong đó
thành viên là những nhân viên trung thành, tận
tụy, chăm lo cho công việc, quan tâm lẫn nhau
và quan tâm tới cả những khách hàng họ phục
vụ.
Sau những vụ sa thải hàng loạt diễn ra tại các
hãng hàng không khác sau ngày 11 tháng 9
năm 2001, một nhân viên lâu năm của hãng
hàng không Southwest nhận xét rằng ông
không ngạc nhiên khi hãng này không để bất
kỳ một ai ra đi. Ông nói với phóng viên rằng
đó là một phần của văn hóa công ty: họ sẽ làm
bất kỳ điều gì phải làm để chăm sóc người của
họ. Một văn hóa như vậy có được không phải
là tình cờ, mà phải bằng cách không ngừng áp
dụng các nguyên tắc và hành động theo thời
gian để thể hiện cho nhân viên thấy, họ được
quan tâm và cho phép họ sử dụng và phát triển
tiềm năng của mình.
...
 





